Thứ Bảy, tháng 10 31, 2009

Sáu sai lầm trong quản trị rủi ro

Người ta hầu như không thể dự đoán được những biến cố kiểu “Thiên Nga Đen”. Do vậy, thay vì duy trì ảo tưởng rằng chúng ta có thể lường trước tương lai, các nhà quản trị nên tìm cách giảm thiểu ảnh hưởng từ những nguy cơ khó nhận biết.

Chúng ta không nhìn thế giới qua lăng kính của những kiến thức quản trị rủi ro xưa cũ. Không một mô hình dự báo nào dự đoán được tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện tại, những tác động vẫn đang tiếp tục khiến các nhà kinh tế học và giáo sư các trường kinh doanh sửng sốt.

Hơn nữa, như chúng ta đều biết, chính những cái gọi là mô hình quản trị rủi ro của các ngân hàng đã làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng, thay vì phải hạn chế, chúng làm tăng khả năng tiếp xúc với hiểm nguy và mặc cho nền kinh tế suy yếu hơn bao giờ hết.

Những biến cố xác suất thấp, tác động lớn và gần như không thể dự đoán - mà chúng tôi gọi là Thiên Nga Đen [1] - đang ngày càng thống trị thế giới. Nhờ internet và quá trình toàn cầu hóa, thế giới của chúng ta trở thành một hệ thống phức tạp với mạng lưới các mối quan hệ rối rắm và những nhân tố có mối quan hệ chằng chịt. Sự phức tạp không chỉ gia tăng phạm vi ảnh hưởng của các biến cố Thiên Nga Đen mà còn khiến người ta không thể dự báo các biến cố dù rất bình thường khác. Tất cả những gì chúng ta có thể dự đoán là những công ty nào phớt lờ các biến cố Thiên Nga Đen sẽ thất bại.

Thay vì cố gắng dự báo cho bằng được các biến cố xác suất thấp, tác động lớn, chúng ta nên tìm cách hạn chế "khả năng phơi nhiễm" trước những biến cố này. Chúng tôi tin rằng quản trị rủi ro nên phát huy vai trò giảm thiểu tác động của những điều chúng ta không biết, thay vì làm một công việc phù phiếm là sáng tạo những kỹ thuật công phu và những minh họa tinh vi để kéo dài ảo tưởng của chúng ta về khả năng hiểu biết và dự đoán môi trường kinh tế, xã hội quanh mình.

Để thay đổi cách tư duy của chúng ta về rủi ro, chúng ta nên tránh 6 sai lầm sau:

1. Tin rằng mình có thể quản lý rủi ro khi đã dự đoán được những biến cố cực hạn

Đây là sai lầm tệ hại nhất mà chúng ta mắc phải bởi một vài nguyên do sau. Thứ nhất, chúng ta có một thư viện khổng lồ sẵn sàng chỉ ra cách dự đoán các biến cố Thiên Nga Đen. Thứ hai, khi chỉ tập trung vào một số viễn cảnh cực hạn, chúng ta sẽ bỏ qua các khả năng khác. Và như thế, chúng ta sẽ dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết.

Sẽ hiệu quả hơn nếu chúng ta dành sự tập trung của mình cho hậu quả, nghĩa là, sẽ đánh giá những tác động có thể có của những biến cố cực hạn. Nếu nhận thức được điều này, các công ty năng lượng sẽ chuyển trọng tâm của mình từ dự đoán thời điểm xảy ra tai nạn trong các nhà máy hạt nhân sang chuẩn bị đón đầu những tình huống có thể xảy ra.

Tương tự như thế, hãy đánh giá xem, so với đối thủ cạnh tranh, công ty của bạn sẽ bị ảnh hưởng đến mức nào trước những thay đổi đột ngột từ môi trường (kinh doanh). Liệu một sự tụt giảm không đáng kể nhưng hoàn toàn không nằm trong dự đoán của bạn về nguồn cung hoặc nhu cầu có ảnh hưởng nghiêm trọng đến công ty của bạn không? Nếu có, công ty bạn rõ ràng sẽ không thể trụ nổi khi số lượng đơn đặt hàng sụt giảm đột ngột, hàng tồn kho gia tăng đột biến...

Nếu xét ở khía cạnh đời tư của mỗi người, nhiều lúc chúng ta hành động theo những cách có thể giúp giảm bớt tác động của các biến cố Thiên Nga Đen. Chúng ta không cố tính toán xác suất xảy ra của các biến cố; chúng ta chỉ lo lắng liệu mình có thể xử lý hậu quả khi các biến cố ấy xảy ra hay không.

Ví dụ, chúng ta rất sẵn sàng mua bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm ôtô, nhà cửa và nhiều thứ khác. Liệu có ai mua xong nhà rồi mới tính toán đến chi phí phải trả để mua bảo hiểm cho nó? Dĩ nhiên bạn chỉ quyết định mua nhà sau khi đã tính toán tất cả chi phí liên quan đến bảo hiểm. Tuy nhiên, trong kinh doanh, chúng ta xem bảo hiểm như một phương án tùy chọn. Bảo hiểm hoàn toàn không phải là một tùy chọn; các công ty phải chuẩn bị để sẵn sàng đương đầu với các hậu quả và phải mua bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro.

2. Tin rằng nghiên cứu quá khứ sẽ giúp quản lý được rủi ro

Các nhà quản lý rủi ro đã sai lầm khi sử dụng khả năng hiểu biết những sự kiện đã qua để dự báo những sự kiện sắp xảy đến. Nhưng tiếc thay, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng không có mối liên hệ nào giữa các biến cố trong quá khứ và những cú sốc của tương lai. Điển hình là những biến cố lớn như Thế chiến I hay vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001, trước nay chưa hề có tiền lệ.

Điều này cũng tương tự với những thay đổi về giá. Cho đến tận cuối thập niên 1980, mức giảm của giá cổ phiếu, dù vào thời điểm tồi tệ nhất, cũng chưa vượt quá 10%/ngày. Nhưng giá cả bất ngờ tụt giảm 23% vào ngày 19/10/1987 [2]. Vì sao tại thời điểm đó mọi người đều tin rằng sắp có tai họa trong khi giá chứng khoán chỉ mới tụt dốc 23%? Lịch sử đã đánh lừa nhiều người.

"Việc này chưa hề có tiền lệ" là lời biện hộ phổ biến của các chuyên gia quản lý rủi ro, đặc biệt là những người làm việc trong ngành tài chính. Họ cho rằng nếu nỗ lực đến một mức nào đó, họ có thể tìm thấy tiền lệ của bất cứ thứ gì và có thể dự đoán bất kỳ điều gì. Tuy nhiên, các biến cố Thiên Nga Đen không hề có tiền lệ. Hơn nữa, thế giới ngày nay đã khác xưa rất nhiều; tính tương thuộc và phi tuyến tính cũng đã gia tăng. Nhiều chính sách trước nay vô hại nhưng giờ lại gây phản ứng ngược.

Người ta không quan tâm đến các dạng ngẫu nhiên cố hữu của nhiều biến số kinh tế. Thật ra có hai dạng, trong đó ngẫu nhiên kinh tế xã hội ít mang tính cơ cấu và dễ theo dõi hơn so với ngẫu nhiên mà bạn gặp trong các giáo trình thống kê hay tại các sòng bạc. Nó tạo ra hiện tượng "người thắng lấy hết" vốn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Chưa đến 0,25% số công ty trên toàn thế giới chiếm hết phân nửa giá trị vốn hóa thị trường, chưa đến 0,2% tổng số đầu sách chiếm một nửa doanh số bán hàng, chưa đến 0,1% các loại thuốc tạo ra hơn một nửa doanh số của ngành công nghiệp dược phẩm, và chưa đến 0,1% tổng các biến cố nguy hiểm là nguyên nhân của ít nhất là một nửa các trường hợp thua lỗ.

Nhờ ngẫu nhiên kinh tế xã hội, không có thứ gì đại loại như thất bại "điển hình" hay thành công "điển hình". Có chiều cao và cân nặng điển hình nhưng không có thứ gì giống như chiến thắng "điển hình" hay thảm họa "điển hình". Chúng ta phải dự đoán cả biến cố lẫn tầm ảnh hưởng của nó, một việc làm hết sức khó khăn bởi không thể có tác động điển hình trong các hệ thống ngày càng phức tạp như hiện nay.

Ví dụ như khi nghiên cứu về ngành công nghiệp dược phẩm, chúng tôi nhận thấy hầu hết các dự báo doanh số không hề phản ánh đúng doanh số thực tế của các sản phẩm mới. Thậm chí khi các công ty này dự đoán đúng thì nhiều trường hợp, doanh số dự báo thấp hơn thực tế đến 22 lần! Do đó, dự đoán được những biến động lớn gần như là không thể.

(còn nữa)

- Bài viết của các tác giả Nassim N. Taleb, Daniel G. Goldstein và Mark W. Spitznagel trên Harvard Business Review -


1 Thiên Nga Đen: là một thuật ngữ được khai sinh bởi Giáo sư Nassim N. Taleb, một học giả uyên bác nổi tiếng với nhiều nghiên cứu về tính ngẫu nhiên và tri thức của con người, về môn khoa học thống kê, về những quyển sách bán chạy nhất thế giới của ông và về những cảnh báo trước khủng hoảng mà về sau đều ứng nghiệm. Trước khi người ta tìm ra nước Úc, cư dân ở Lục Địa Già đều tin rằng tất cả thiên nga đều có màu trắng. Nhưng vào đầu thập niên 1790, phát hiện của một nhà tự nhiên học người Anh, John Latham, về loài thiên nga đen ở vùng Tây Nam nước Úc đã khiến cả thế giới kinh ngạc. Do đó, theo cách diễn giải của Giáo sư Taleb, "những sự kiện mà ai cũng tin rằng hầu như không thể nào xảy ra nhưng lại tác động rất lớn được xem là Thiên Nga Đen""khả năng xảy ra của những sự kiện tưởng chừng như không thể cũng tương đương với khả năng không xảy ra của những sự kiện tưởng chừng như vô cùng chắc chắn".

2 "Ngày thứ Hai đen tối" của Mỹ

Để thay đổi cách tư duy của chúng ta về rủi ro, chúng ta nên tránh mắc phải sáu sai lầm sau.

3. Không chịu nghe lời khuyên về những gì không nên làm

Lời khuyên dạng "không nên" thường thiết thực hơn rất nhiều so với dạng "nên". Ví dụ, lời khuyên không nên hút thuốc mà bạn dành cho người khác sẽ có tác dụng hơn những lời khuyên chung chung liên quan đến sức khỏe. Nhà nghiên cứu di truyền học Druin Burch có lần phát biểu trên tạp chí Taking the Medicine rằng: "Tác hại của việc hút thuốc tương đương với tổng lợi ích của các biện pháp can thiệp y khoa được phát triển từ sau Thế Chiến II đến nay. Từ bỏ thói quen hút thuốc sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn việc có thể chữa khỏi bất kỳ loại ung thư nào cho con người".

Tương tự như thế, nếu như các ngân hàng ở Mỹ chịu lắng nghe các lời khuyên và không tự làm mình ngày càng gặp nhiều hiểm nguy trước các biến cố xác suất thấp, ảnh hưởng lớn thì dù cho lợi nhuận thu được có thể thấp hơn nhưng họ sẽ không rơi vào cảnh gần như phá sản như hiện nay.

Các nhà tâm lý học xem xét hành động "bỏ sót một công việc" và "thực hiện sai một công việc" là hai vấn đề khác nhau. Mặc dù ảnh hưởng của nó xét trên phương diện kinh tế là như nhau - không mất đi một đôla tức là có thêm một đôla - nhưng các nhà quản lý rủi ro thì không nghĩ như thế. Họ quan tâm đến việc tạo ra lợi nhuận hơn việc tránh thua lỗ. Tuy nhiên, trên thực tế, một công ty có thể thành công khi không để thua lỗ trong khi đối thủ của nó đều phá sản và nhờ đó, công ty này có thể giành lấy thị phần từ tay đối thủ.

Trong thi đấu cờ vua, các đại kiện tướng tập trung làm sao không mắc sai lầm trong khi những "tân binh" thì chỉ cố gắng làm sao chiến thắng. Cũng tương tự, các nhà quản lý rủi ro không thích dòng tiền nằm yên mà không được mang đi đầu tư, và nhờ đó có thể bảo toàn giá trị của nó. Tuy nhiên, hãy nghĩ mà xem bạn sẽ như thế nào khi danh mục đầu tư của mình vẫn được giữ nguyên vẹn suốt hai năm qua thay vì giảm mất 40% như nhiều nhà đầu tư khác. Không thua lỗ gần một nửa kế hoạch về hưu của mình chính là một thành công không cần bàn cãi.

Lời khuyên mà chỉ nói những điều tích cực là thứ gì đó bịp bợm. Khu vực sách kinh doanh trong các hiệu sách thì đầy ắp các câu chuyện thành công trong khi có quá ít đầu sách nói về thất bại. Chính thái độ xem nhẹ lời khuyên cảnh báo những tiêu cực như thế khiến các công ty xem nhiệm vụ quản trị rủi ro là một phần việc hoàn toàn tách biệt với tìm kiếm lợi nhuận và dần xa rời bản chất vốn có của nó khi chỉ được thể hiện qua việc truy hồi về quá khứ và giải thích cho những hiện tượng đã xảy ra.

Thay vì làm như vậy, các công ty hãy tích hợp các hoạt động quản trị rủi ro vào trung tâm sinh lợi [1] và xem đây là một trong những hoạt động tạo ra doanh thu, nhất là khi các công ty dễ bị tác động bởi các biến cố Thiên Nga Đen.

4. Cho rằng có thể giới hạn được rủi ro bằng độ lệch chuẩn

Độ lệch chuẩn - một khái niệm được sử dụng trong tài chính như một công cụ kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tư - không nên được áp dụng trong quản trị rủi ro. Độ lệch chuẩn được tính bằng căn bậc hai của các phương sai bình phương trung bình, chứ không phải phương sai trung bình. Việc sử dụng bình phương và căn bậc hai khiến phương pháp tính toán trở nên phức tạp. Nó chỉ có ý nghĩa trong môi trường mà sự ngẫu nhiên đã "được thuần hóa", trong đó hai phần ba các thay đổi đều rơi vào một số giới hạn nhất định (độ lệch chuẩn -1 và +1) và không thể có phương sai vượt quá 7 độ lệch chuẩn.

Tuy nhiên, kiến thức nói trên không thể áp dụng được trong thực tế khi mà các biến động có thể vượt quá 10, 20 hay thỉnh thoảng lên đến 30 độ lệch chuẩn. Các nhà quản lý rủi ro cần tránh sử dụng những phương pháp và cách tính toán liên quan đến độ lệch chuẩn như mô hình hồi quy, R-square và beta.

Người ta hiểu rất ít về độ lệch chuẩn. Ngay cả những chuyên gia phân tích định lượng cũng chưa hẳn hiểu thấu khái niệm này. Chúng tôi thực hiện nhiều thử nghiệm vào năm 2007, chúng tôi cho một nhóm các chuyên gia phân tích định lượng thông tin về dao động tuyện đối trung bình (độ lệch tuyệt đối trung bình) của một loại cổ phiếu, và khi chúng tôi yêu cầu họ thực hiện các phép tính, ngay lập tức họ nhầm lẫn nó với độ lệch chuẩn.

Khi mà các chuyên gia còn nhầm lẫn thì liệu rằng những người khác có thể tính toán đúng không? Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu như ai đó hy vọng rằng rủi ro có thể được thể hiện qua một con số đơn thuần thì quả thật đó là một thảm họa.

5. Không hiểu rằng những gì tương đương về mặt toán học thì không tương đương về mặt tâm lý học

Năm 1965, nhà vật lý học Richard Feynman đã viết trong tác phẩm The Character of Physical Law rằng hai công thức tương đương nhau về mặt toán học có thể không tương đương nhau ở cách thể hiện của chúng trước bộ não con người. Tương tự, nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy cách thức trình bày một rủi ro sẽ ảnh hưởng đến cách hiểu của chúng ta về nó. Nếu bạn nói với các nhà đầu tư rằng trung bình phải mất 30 năm thì họ sẽ mất hết tài sản một lần thì họ sẽ sẵn sàng rót vốn hơn khi bạn nói khả năng họ thua lỗ hết tiền là 3,3% mỗi năm.

Điều này cũng lặp lại với thí nghiệm về di chuyển bằng máy bay. Chúng tôi hỏi những người tham gia vào thí nghiệm rằng: "Bạn đang đi nghỉ ở nước ngoài và cân nhắc liệu có nên thử di chuyển bằng một hãng hàng không ở nước ấy để ngắm hòn đảo đặc biệt ấy không. Các thống kê về an toàn cho thấy trong 1.000 năm thì hãng hàng không này mới để xảy ra 1 vụ tai nạn. Mà có lẽ sau này bạn không có dịp quay lại đất nước này nữa. Bạn có muốn chọn hãng hàng không địa phương đó không?". Tất cả người tham gia thí nghiệm đều trả lời "Có".

Sau đó, chúng tôi thay đổi câu thứ 2 như sau: "Các thống kê về an toàn cho thấy cứ 1.000 chuyến bay thì có 1 chuyến gặp tai nạn". Chỉ 70% số người tham dự nói rằng họ sẽ chọn chuyến bay đó. Trong cả hai trường hợp, khả năng xảy ra tai nạn đều là 1 phần 1.000; nhưng cách tính sau nghe có vẻ rủi ro hơn rất nhiều.

Một viễn cảnh có vẻ càng lý tưởng thì thường tiềm ẩn rủi ro càng cao. Lúc nào bạn cũng nên tìm kiếm nhiều phương pháp thể hiện khác nhau của rủi ro để chắc chắn rằng bạn không bị hình thức hoặc toán học đánh lừa.

6. Không có chỗ cho tình trạng dư thừa nếu muốn đạt được hiệu quả và tối đa hóa giá trị của cổ đông

Hầu hết các nhà quản lý không nhận thấy việc tối ưu hóa hoạt động có thể khiến công ty dễ gặp khó khăn trước những thay đổi của môi trường. Các hệ thống phân loại sinh học cũng biết cách ứng phó với thay đổi và Mẹ Thiên Nhiên là một nhà quản trị rủi ro hàng đầu. Điều đó một phần là do bà yêu thích tình trạng dư thừa. Quá trình tiến hóa đã cho loài người chúng ta thêm nhiều bộ phận dự phòng - chẳng hạn như chúng ta có 2 lá phổi và 2 quả thận - và nhờ đó mà chúng ta tồn tại.

Trong doanh nghiệp, tình trạng dư thừa rõ ràng là biểu hiện của sự không hiệu quả: các năng lực bị "treo", các thiết bị không được sử dụng, và tiền bạc nhàn rỗi. Ở khía cạnh ngược lại, chúng ta được dạy rằng tác dụng đòn bẩy (nợ) là một điều tốt đẹp. Nhưng không; nợ nần khiến cho công ty, và cả cấu trúc kinh tế, không còn vững chãi. Nếu bạn lệ thuộc quá nhiều vào vay nợ, công ty bạn có thể sụp đổ nếu như không thể đạt được doanh số dự báo, nếu như lãi suất biến động hay nếu như các rủi ro khác cùng ập đến. Nếu trong sổ cái kế toán của bạn sạch nợ, bạn sẽ đối phó với thay đổi tốt hơn.

Chuyên môn hóa cao độ cũng cản trở sự tăng trưởng của công ty. Theo lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo, để tối ưu hóa hiệu quả, một nước nên chuyên sản xuất rượu vang còn nước kia thì chuyên sản xuất quần áo,... Nhưng lập luận này đã bỏ qua yếu tố: những thay đổi đột ngột. Điều gì sẽ xảy ra khi giá rượu vang giảm mạnh? Vào thập niên 1800, nhiều nền văn hóa ở Arizona và New Mexico đã biến mất vì họ lệ thuộc hoàn toàn vào một vài loại cây lương thực nên kết quả là họ không thể sống sót khi thời tiết có biến động mạnh.

...

Một trong những câu chuyện thần thoại về chủ nghĩa tư bản là động cơ thúc đẩy làm việc... và cả bãi công nữa. Cuộc đời của mỗi người đều phải có những lúc thăng trầm. Tuy nhiên, bản chất của tiền phúc lợi chính là một trong những yếu tố làm tăng mức độ rủi ro. Nếu bạn trao cho ai đó một khoản tiền thưởng mà không kèm theo điều khoản thu hồi, người ấy sẽ có động lực để che giấu rủi ro bằng cách tham gia vào những giao dịch có nhiều khả năng tạo ra các khoản lợi nhuận nhỏ và ít khả năng đổ vỡ. Các nhà quản lý cứ theo đó mà nhận thưởng đều đặn mỗi năm. Nếu sau cùng đổ vỡ cũng xảy ra thì họ sẽ xin lỗi nhưng không bị buộc phải hoàn trả các khoản thưởng.

Điều này cũng đang thực sự diễn ra tại nhiều tập đoàn. Đó là lý do vì sao nhiều CEO trở nên giàu có trong khi các cổ đông thì vẫn nghèo. Xã hội và các cổ đông cần phải có quyền lực pháp lý để thu hồi các khoản thưởng đối với những ai không đáp ứng được yêu cầu. Điều đó sẽ giúp thế giới này tốt đẹp hơn.

Hơn nữa, chúng ta không nên trao các khoản tiền thưởng cho những người quản lý các tập đoàn lớn như nhà máy hạt nhân hay ngân hàng. Nhiều khả năng họ sẽ tham của rẻ tiền để tối đa hóa lợi nhuận. Xã hội chúng ta đang giao trọng trách quản trị rủi ro lớn nhất cho quân đội nhưng quân nhân thường không được nhận thưởng.

Xin hãy nhớ rằng rủi ro lớn nhất nằm trong chính bản thân chúng ta: Chúng ta đánh giá cao khả năng của mình nhưng đánh giá thấp nguy cơ dẫn đến thất bại. Thần thoại Hy Lạp cũng có không ít minh họa cho cái giá phải trả của thói ngạo mạn: Achilles và Agamemnon chết vì tính ngạo mạn; Xerces thất bại khi tấn công Hy Lạp vì thói tự phụ; và nhiều thống soái xuyên suốt lịch sử đã phải bỏ mạng vì không nhận ra giới hạn của bản thân. Bất kỳ tập đoàn này không nhận ra "Gót chân Achilles" của mình sẽ thất bại.

- Bài viết của các tác giả Nassim N. Taleb, Daniel G. Goldstein và Mark W. Spitznagel trên Harvard Business Review -


1 Trung tâm sinh lợi: từ gốc là profit center, khái niệm này được hiểu như một chi nhánh hay phòng ban của một công ty có khả năng tự mình độc lập mang về lợi nhuận. Doanh thu và chi phí của trung tâm sinh lợi này sẽ được hạch toán độc lập đề nhờ đó tính toán được hiệu quả sinh lợi của nó.

Thứ Năm, tháng 10 01, 2009

Sáng tạo = dám đổi mới + dám cạnh tranh + …

Doanh nghiệp VN thường kém tự tin, hay bàn lùi, và chưa thực sự tin vào tầm quan trọng của marketing và sáng tạo. Nhà hoạch định chiến lược hàng đầu thế giới, GS Tom Cannon, đưa ra những nhận xét “chí tử” đó về các nhược điểm lớn nhất - những lực cản đối với sáng tạo - của doanh nhân Việt.

Tại buổi bàn tròn trực tuyến “Tương lai Việt Nam – con đường của sự sáng tạo”, hai vị khách mời là GS Tom Cannon và doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ đã đưa ra nhiều quan điểm thẳng thắn về sức sáng tạo của dân tộc Việt Nam nói chung và doanh nhân Việt Nam nói riêng.

Sáng tạo là phải ra khỏi quá khứ


Cuộc bàn tròn trực tuyến (Ảnh: Trường Minh)

Trong hai tiếng bàn tròn vào chiều 5/8, vị giáo sư người Anh đã có vài lần làm người nghe phải giật mình, chẳng hạn khi ông nhận xét: “Sẽ rất nguy hiểm cho một quốc gia nếu họ có quá khứ anh hùng”.

Ông lấy chính nước Anh làm ví dụ: “Anh quốc chiến thắng phát xít Đức trong Thế chiến II một cách kiên cường. Nhưng đã 70 năm qua rồi mà Anh vẫn sống với quá khứ anh hùng đó, vẫn làm phim, vẫn nói về nó”.

Trong khi đó thì đồng minh lớn của Anh là Mỹ lại thể hiện một quan niệm khác hẳn, khi ngay từ hồi tranh cử, Tổng thống Barack Obama đã kêu gọi nước Mỹ tư duy lại tương lai. Nghĩa là họ sẽ phải xác định rõ họ muốn trở thành ai trong tương lai – nhà băng hay nhà phát minh?

Trong quá khứ, Mỹ đã là một quốc gia tập trung được rất nhiều sáng tạo vào các ngành ngân hàng và tài chính. Nhưng ngày nay, để phát triển, người Mỹ phải sáng tạo hơn nữa, phải phân bổ sáng tạo vào những ngành khác, những lĩnh vực có khả năng tạo sự thịnh vượng thật sự cho quốc gia, dân tộc.

Mỹ sẽ phải lựa chọn: là một quốc gia tiếp tục chuyên sâu vào cung cấp các dịch vụ tài chính – ngân hàng và mang lại lợi nhuận cho quốc gia khác, hay sẽ là những nhà phát minh để sáng tạo ra các giá trị thực sự?

Nước Mỹ sẽ lựa chọn, nhưng điều quan trọng là họ đang đặt ra vấn đề tư duy lại về bản thân trong tương lai. Họ đang hướng về tương lai thay vì sống với quá khứ. Đó là một yêu cầu của sự sáng tạo.

Cùng chia sẻ quan điểm của GS Tom Cannon, ông Đặng Lê Nguyên Vũ – TGĐ kiêm Chủ tịch HĐQT Công ty CP Trung Nguyên – nói về tầm quan trọng của việc ra khỏi quá khứ, nhìn về tương lai, để có thể sáng tạo: “Châu Âu có đủ những điều kiện tuyệt vời để cất cánh. Nhưng họ ngủ quên. Văn hóa châu Âu là nền văn hóa hướng về quá khứ thay vì tương lai. Bên cạnh đó, châu Âu sung túc, nên họ đang tự hài lòng. Và vì vậy, họ sẽ tụt lại (so với Mỹ)”.

Con đường sáng tạo nào cho Việt Nam?


Ông Đặng Lê Nguyên Vũ (Ảnh: Trường Minh)

Ông Đặng Lê Nguyên Vũ nhắc tới việc Việt Nam có tới 3.000 km bờ biển, tiếc rằng chúng ta đã luôn “quay lưng ra biển”, trong khi trên thế giới có những quốc gia nhỏ bé như Hà Lan, Thụy Sĩ lại luôn biết tận dụng tiềm năng của biển. “Nếu ông cha ta 300 năm trước hướng ra biển thì bây giờ Việt Nam hẳn đã khác. Nhưng bao nhiêu thế hệ người Việt đã không làm được như thế. Chúng ta có một nền văn hóa âm tính”.

Để sáng tạo, theo ông Vũ, cần một cuộc cách mạng về nhân sinh quan, tâm lý người Việt. Phải đánh giá lại và loại bỏ những cái “neo” níu giữ khiến chúng ta không bung ra được. Đồng thời, bồi đắp những gì thuộc về bản sắc, hệ giá trị cốt lõi của dân tộc. “Phải lên một danh sách tất cả những thứ đó. Hiện giờ chúng ta đang quay cuồng, chẳng còn biết cái gì là bản sắc nữa. Người Việt phải có nét riêng”.

Từ địa vị một nhà hoạch định chiến lược kinh doanh quốc gia, GS Tom Cannon cho rằng cách để sáng tạo là: Thứ nhất, không ngừng cải tiến, đổi mới sản phẩm cũ thứ hai, suy nghĩ về tương lai – trong tương lai, thị trường sẽ có nhu cầu gì mới, sẽ có sản phẩm hay công nghệ gì mới?

Chẳng hạn, tại sao người Việt không nghĩ tới việc đổi mới một sản phẩm cũ là gạo? Ông Tom Cannon cho biết, ở Mỹ ngày nay, nhiều người không thích dùng sản phẩm gạo vì sợ béo. Cho nên, loại gạo không gây mập chắc chắn là tạo ra nhu cầu lớn.

Với đà phát triển của công nghệ hiện nay, trong tương lai, sẽ xuất hiện những sản phẩm thống lĩnh thị trường mà hiện nay hoàn toàn chưa tồn tại. Cũng như cách đây 30 năm, liệu có ai nghĩ rằng chiếc điện thoại chúng ta dùng sẽ có những chức năng như bây giờ: cho phép người dùng nghe nhạc, lướt mạng, chụp hình, quay phim…

“Biết đâu sẽ có lúc Việt Nam nổi bật lên vì một công nghệ mới nào đó mà các bạn sáng tạo ra?” – ông Tom Cannon nói. “Giới trẻ Việt Nam thông minh như giới trẻ ở bất kỳ đâu trên thế giới. Vậy các bạn có muốn Nhật Bản và Mỹ tiếp tục là những nhà phát minh còn các bạn thì sản xuất không?”.

Sao dũng cảm trong thời chiến mà lại nhát sợ trong thời bình?


Ông Tom Cannon (Ảnh: Trường Minh)

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều nêu vấn đề: Tại sao một dân tộc Việt Nam can đảm, không lùi bước trước bom đạn và chết chóc trong chiến tranh, lại run sợ trước những “đội quân kinh tế” thời bình?

Trả lời câu hỏi này, GS Tom Cannon kể một câu chuyện: Các nhà khoa học từng làm thí nghiệm với những con ếch. Họ thả ếch vào một nồi nước đang sôi, ngay lập tức lũ ếch đều nhảy vọt ra khỏi nồi. Nhưng khi họ cho ếch vào nồi nước lạnh, sau đó tăng nhiệt độ dần dần, thì ếch bơi lội tung tăng, thoải mái. Cho đến khi nhiệt độ cao quá thì cả lũ ếch đều chết sạch.

Ông Tom Cannon hài hước nhận xét rằng Việt Nam thời chiến cũng giống như trường hợp ếch bị thả vào nồi nước đang sôi. Còn thời bình, cuộc chiến kinh tế diễn ra rất từ từ, mềm mại, nên Việt Nam cần hết sức cẩn thận để tránh rơi vào trường hợp thứ hai.

Còn ông Đặng Lê Nguyên Vũ thì giải thích rằng chúng ta có truyền thống đánh giặc chứ chưa có truyền thống thương mại. Thực tế, mậu dịch hàng hóa với thế giới mới chỉ được tiến hành khoảng 20 năm nay. Do đó, tâm lý thiếu tự tin là điều dễ hiểu.

Theo ông Vũ, “trong chiến tranh, ta thắng vì ta xác định đây là cuộc chiến sống còn. Ta không sợ vì nếu sợ, ai còn dám đánh giặc nữa”. Vậy, thời nay, muốn chiến thắng trong cạnh tranh, người Việt cũng phải xác định cho mình tư tưởng dám cạnh tranh, sẵn sàng cạnh tranh trong một cuộc chiến hết sức tinh vi.

“Nói về người Mỹ, Singapore, Trung Quốc… thì chúng ta hầu như luôn ngưỡng mộ. Sao chúng ta không tự hỏi: Họ có phải thần thánh không? Không. Thế ta có phải là con người không? Có. Vậy tại sao họ làm được còn ta thì không? Không dám có tư tưởng đua tranh thì làm sao mà dám nghĩ ra cái gì nữa” – ông Đặng Lê Nguyên Vũ nhấn mạnh.

Nói về cuộc cạnh tranh của chính Trung Nguyên với các thương hiệu café lớn trên thế giới như Starbucks, Nescafé v.v., vị TGĐ kiêm Chủ tịch HĐQT của Trung Nguyên nói: “Tôi biết họ có lực. Tôi biết họ là những người khổng lồ. Tôi thua họ về quy mô, về mạng lưới phân phối, về xuất phát điểm là thương hiệu quốc gia… Nhưng tôi không sợ… Chúng tôi đặt mục tiêu chinh phục thế giới bằng sản phẩm café”.

GS Tom Cannon cũng bày tỏ sự cổ vũ đối với Trung Nguyên, khi nói rằng Starbucks mất 20 năm để trở thành một thương hiệu toàn cầu, tại sao Trung Nguyên lại không thể? Ông mỉm cười nói thêm: “Hãy đừng phát triển cà phê chỉ vì nông dân, mà hãy nhìn vào thị trường. Và tôi cũng muốn nói luôn là có những việc nếu quý vị muốn làm mà không thực hiện, thì Starbucks sẽ làm”.

Bàn tròn kết thúc với việc GS Tom Cannon chỉ ra những điểm yếu lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời bày tỏ mong ước các doanh nghiệp cũng chúng ta sẽ khắc phục được những nhược điểm đó, nâng tầm sáng tạo để phát triển.

Tuần Việt Nam