Chủ Nhật, tháng 6 13, 2010

Kỹ thuật: Cẩm nang để vào trang Facebook

10 cách vào Facebook khi bị chặn

1/ Dùng Open DNS: Open DNS là một DNS Server trung gian, bổ sung thêm các
bộ lọc web và giúp bạn tăng cường tốc độ lướt web. Ngoài ra, nhờ qua DNS trung
gian này nên bạn sẽ không còn bị chặn nữa. Cài đặt và tìm hiểu thêm Open DNS tại
đây. Đây cũng là cách được hầu hết các bạn độc giả của Facebook Việt sử dụng và tỷ lệ thành công gần như là 100%!

Cài đặt và tìm hiểu thêm Open DNS tại đây.

2/ Sử dụng DNS của Google

Đây cũng là cách được rất nhiều bạn sử dụng thành công!

3/ Bạn vào qua địa chỉ http://vi-vn.connect.facebook.com, ( thêm vi-vn.connect. vào trước facebook.com )

4/ Sử dụng phần mềm DNS Jumper

Phần mền này cho phép bạn thay đổi DNS của máy chủ một cách tùy thích chỉ với 1 cú Click chuột.

Các bạn có thể tải phần mềm này tại đây. Theo liên kết kế bên bạn sẽ vào được trang cung cấp phần mền trên và tải về máy .Khi bạn đã hoàn tất tải về chỉ việc ấn Run là máy tính sẽ tự động chạy chương trình và nó sẽ hiện bảng giao diện như sau .

Bạn cứ tùy thích lựa chọn các DNS trong bảng ,nhưng chúng tôi khuyên bạn nên chọn Google Dns hoặc OPen Dns và với 1 cú click bạn sẽ truy cập vào tất cả các trang web bị chặn trên thế giới nói gì là Facebook.

5/ Sử dụng các proxy/socks: để tìm được các proxy/socks, bạn có thể truy
cập vào một số trang proxy miễn phí như http://sockslist.net/, http://www.checker.freeproxy.ru/checker/last_checked_proxies.php,
http://aliveproxy.com/socks5-list/… Khi truy cập vào, bạn sẽ nhận được một
danh sách các địa chỉ IP và cổng (IP Address:Port) theo định dạng:
123.123.123.123:1234, phía trước dấu hai chấm : là địa chỉ IP, và phía sau là
cổng. Sau khi có địa chỉ rồi, bạn vào thiết lập của trình duyệt như sau:

- Firefox: Tools > Options > Advanced > Networks > Settings > Manual Proxy
Configurations > Socks Host.

- Internet Explorer: Tools > Internet Settings > Connections > Lan Settings >
Use a Proxy Server for you LAN.

- Chrome: Options > Under the Hood > Change Proxy Settings > Connections > Lan
Settings > Use a Proxy Server for you LAN.

- Opera: Tools > Preferences > Advanced > Networks > Proxy Servers.

Sau đó bạn điền địa chỉ IP và port vào, OK để bắt đầu sử dụng.

6/ Dùng phần mềm đổi IP: dùng các phần mềm đổi địa chỉ IP như Auto Hide
IP, Real Hide IP, Hide IP NG, Invisible Browsing.

7/ Dùng UltraSurf: đây là phần mềm dễ sử dụng nhất để đổi địa chỉ IP và
truy cập vào các trang web bị chặn. Bạn chỉ cần chạy nó là xong. Tải

UltraSurf
.

Bạn cũng có thể tải Ultrasurf tại đây

8/ Dùng trang web: hiện trên mạng có nhiều trang web để bạn làm việc này.
Tiêu biểu có 2 website là HideMyAssDeFilter. Chỉ cần truy cập vào, gõ địa
chỉ trang web vào khung rồi bấm Enter.

9/ Dùng trang dịch: sử dụng các trang web dịch thuật như Google Translate
để truy cập. Bạn vào Google, gõ địa chỉ facebook.com vào rồi bấm Translate để
dịch. Hoặc truy cập trực tiếp vào trang

http://translate.google.com/translate?hl=en&sl=ja&tl=en&u=http://facebook.com/&anno=2.

10/ Sử dụng Opera Tor: OperaTor là trình duyệt dựa trên Opera nhưng có
thêm tính năng tự tìm và sử dụng các proxy, nhờ vậy bạn có thể truy cập vào bất
cứ trang web bị chặn nào. Khi truy cập, bạn có thể gặp phải ngôn ngữ lạ do Opera
dùng proxy của nước đó, bạn kéo trang web xuống để chọn lại tiếng Anh. Tải
OperaTor
.

Trong bài viết này, Facebook Việt đã giới thiệu với bạn nhiều cách khác nhau, nếu bạn cần vào nhanh và chỉ vào Facebook trong thời gian ngắn, bạn có thể dùng cách 3. Tuy nhiên cách tốt nhất để bạn truy cập vào Facebook lâu dài và hiệu quả là cách 1, 2 và 4.

Một cách khác
Do mạng nhà bạn bị chặn DNS (thường là mạng của VNPT), để khắc phục các bạn làm như sau:
Vào My Net work Places ---> View Net work Connections --->Local Area Connection----> Properties ----> Internet Protocol ----> ở dòng "Use the following DNS sever addresses" các bạn điền như hình bên dưới:


Hoặc

Sau đó nhấn OK.

Chúc các bạn Facebook thành công!

**********************************************************************************

Cẩm nang vượt tường lửa :
Tài liệu này không đề cập đến lý thuyết và các vấn đề của tường lửa, mà chỉ trình bày các cách vượt tường lửa ngắn gọn. Vì vượt tường lửa là một hình thức rượt đuổi – khi người ta tìm ra được một cách vượt tường lửa thì chế độ độc tài lại tìm cách khóa lại, rồi người ta lại tìm một cách khác …. – do đó tài liệu này chỉ hữu ích nếu nó làm giúp được người dùng biết cách vượt tường lửa hơn là cung cấp nơi vượt tường lửa.

1. Dùng phần mềm đặc biệt để vượt tường lửa:
Có một số phần mềm có thể dùng trong việc vượt tường lửa để xem các trang web bị ngăn chận.

Tor: http://www.torproject.org/ Sau khi download về, cần phải định hình browser. Để tiện gọn hơn, dùng torpark là một gói phần mềm miễn phí sẵn sàng để sử dụng mà không cần cài đặt gì cả. Download xuống và dùng thôi. Bạn tìm phần mềm torpark trên net, dùng keyword “torpark”. Torpark đã ngừng lại ở ấn bản 1.5.0.7. Thay thế nó là xB Browser.

xB Browser: http://xerobank.com/xB_Browser.php. Phần mềm này là hậu thân của torpark. Nếu sử dụng với tính cách cá nhân thì bạn có thể dùng xB Browser miễn phí. Download nó xuống, cài đặt và dùng xB Browser như bạn dùng IE hay FireFox để vượt tường lửa xem các trang web bị chận.

FreeGate: http://www.dit-inc.us/freegate Phần mềm miễn phí do công ty Dynamic Internet Technology (DIT) thực hiện để giúp người sử dụng tại Trung Quốc vượt tường lửa. Chỉ cần download và chạy. Phần mềm sẽ tự động đi tìm các proxy servers, định hình trong IE browser. Bạn dùng IE sau đó để xem các trang web bị chận.

UltraSurf: http://www.ultrareach.com/company/download.htm Vì các trang web của Pháp Luân Công bị chận bởi tường lửa Trung Quốc họ mới thành lập công ty UltraReach Internet Corp để thực hiện phần mềm UltraSurf miễn phí giúp cho người dân Trung Quốc vượt tường lửa. Tuy nhiên bất cứ ai ở các quốc gia độc tài cũng dùng phần mềm này được để vượt tường lửa của xứ họ.

2. Dùng proxy servers để vượt tường lửa
:
Proxy servers là những server làm trung gian để lướt mạng và qua đó giúp vượt tường lửa. Proxy servers trong dạng địa chỉ IP và bạn phải vào trong browser IE, FireFox, v.v… để cài địa chỉ IP của proxy server đó vào. Sau đó bạn dùng browser để lướt mạng xem những trang web bị chặn trước đó.

a) Tìm danh sách các proxy servers: Có những trang như www.proxy4free.com liệt kê các proxy servers miễn phí. Nếu bạn không vào được trang trên thì vào net tìm “free proxy servers”.

b) Cài địa chỉ IP của proxy servers vào browser: Địa chỉ IP của proxy servers trong dạng số a.b.c.d và có thể có số cổng (port number). Thí dụ: 63.149.98.48, port 80.

Internet Explorer: Vào Tools, Internet Options, Connections, LAN settings, rồi trong phần “Proxy server”, điền vào địa chỉ IP và số cổng.

FireFox: Vào Tools, Options, Advanced, Network, bấm vào nút Settings, chọn “Manual proxy configuration”, rồi trong hàng HTTP Proxy, điền vào địa chỉ IP và số cổng.

3. Dùng Anonymizer web / web proxy để vượt tường lửa:
Anonymizer là những dịch vụ giúp người dùng lướt mạng một cách kín đáo và giúp đi xuyên qua tường lửa. Dịch vụ anonymizer căn bản chỉ là những trang web proxy. Người ta vào các trang web đó, rồi đánh vào địa chỉ của trang web đã bị ngăn chận. Các trang web anonymizer sẽ làm công việc trung gian chuyển tải nội dung trang web bị chận xuống đến máy vi tính của người lướt mạng.

Quý bạn không cần phải download phần mềm nào cả, không cài đặt gì cả, không sửa đổi gì trong browser của mình cả, chỉ duy nhất đến trang web cung cấp dịch vụ anonymizer (một số miễn phí, một số khác tính tiền)

Những trang anonymizer phổ thông như:
www.anonymouse.org
www.hidemyass.com
www.shadowsurf.com
www.anonymizer.com
https://proxify.com/
www.proxyforall.com
www.proxeasy.com

Nếu những trang trên đã bị chế độ độc tài biết đến và chận lại thì bạn vào các trang tìm kiếm như google.com, yahoo.com, v.v… để đi tìm các dịch vụ khác. Chữ (keyword) đi tìm là “anonymizer”.

Điểm sách "Thú tội của một sát thủ kinh tế"

Đọc “Thú tội của một sát thủ kinh tế”
của John Perkins


Khoảng hai năm nay, cuốn “Confessions of an Economic Hit Man” (nxb Penguin, New York) của John Perkins đã trở nên một “hiện tượng” ở Mỹ (và đang lan ra nhiều nước khác). Dù tác giả là một người trước đây hầu như không tên tuổi, và cuốn sách không được một tờ báo lớn nào nói đến (mãi đến gần đây), nó đã leo lên hàng thứ sáu (vào đầu tháng 3/2006) trong danh sách các quyển bán chạy nhất. Cuốn sách cũng đang được nhiều đại học khuyến khích sinh viên đọc, và nghe đâu Hollywood cũng sẽ quay thành phim với tài tử Harrison Ford thủ vai chính.

Tóm tắt, đây là “hồi kí” của một nhân vật tên John Perkins, tự xưng đã từng làm “sát thủ kinh tế”. “Sát thủ kinh tế”, theo lời Perkins, là người được giới đại doanh thương Mỹ gởi sang các quốc gia đang phát triển để thực hiện những mưu đồ kinh tế cực kì hắc ám nhằm phục vụ quyền lợi của giới này, và gián tiếp là của nước Mỹ. Cuốn sách là “tự thú” của Perkins về những “tội phạm” mà ông ta khai là đã làm trong thập niên 1970.

Tác giả kể: sau khi tốt nghiệp đại học, ông ta được một công ti tư vấn ở Boston (Mỹ) tuyển mộ làm chuyên viên kinh tế với hai nhiệm vụ. Đầu tiên, ông sẽ được gởi sang một quốc gia đang phát triển để biện minh (thường là dối trá) những dự án cơ sở hạ tầng (như xa lộ, đê đập, mạng điện, vv) cách nào để các quốc gia này vay được tiền của các tổ chức và ngân hàng quốc tế và, cùng lúc, giúp các đại công ti Mỹ (như Bechtel, Halliburton) “trúng thầu”. Sau đó, “sát thủ kinh tế” Perkins phải làm thế nào để các quốc gia ấy ... phá sản, không trả được nợ. Khi đã sa vào hoàn cảnh ấy, các nước này phải nghe lời chủ nợ, trở thành một “đàn em” dễ bảo của Mỹ, cho Mỹ khai thác dầu hoả và các tài nguyên thiên nhiên khác, lập căn cứ quân sự, hoặc ít nhất thì cũng bỏ phiếu theo Mỹ ở Liên Hợp Quốc.

Sự nghiệp của Perkins bắt đầu ở Indonesia năm 1971 với nhiệm vụ lập một dự án mạng điện cho đảo Java, Ông ta nhận lệnh đưa ra những dự báo kinh tế cực kì lạc quan để USAID (cơ quan viện trợ kinh tế của Mỹ) và các ngân hàng quốc tế có thể cho chính phủ Indonesia vay tiền. Tất nhiên, dự án ấy sẽ thất bại (hoặc không nhiều lợi ích như dự báo), Indonesia không thể trả nợ, và sa vào cái “còng” của Mỹ.

Chu toàn tốt đẹp sứ mạng ở Indonesia, năm 1972 Perkins được gởi sang Panama. Làm “cố vấn” cho “kế hoạch phát triển toàn bộ” của nước này, Perkins được sếp ra lệnh đề nghị một loạt dự án không thực tế, ngụy tạo các con số, tưởng tượng một tương lai sáng ngời cho Panama để Ngân Hàng Thế Giới đầu tư hàng tỉ đô la vào cơ sở hạ tầng ở nước này. Perkins cũng không quên gài vào những hợp đồng cho vay một số điều kiện mà chỉ các công ti Mỹ mới thoả mản được. Thâm độc hơn, vì chính phủ Panama lúc ấy có thái độ “kình” Mỹ, cụ thể là muốn Mỹ trả lại kênh Panama, Perkins được chỉ thị phải làm sao để các nhà lãnh đạo nước này “nhu mì” hơn đối với Mỹ.

Song có lẽ “thành tích” rực rỡ nhất của Perkins là ở A-rập Xê-út, nơi Perkins “hạ cánh” năm 1974. Như mấy lần trước, ở đây Perkins cũng được lệnh thổi phồng dự báo tăng trưởng để biện minh cho các món vay và các khế ước với các công ti Mỹ. Quan trọng hơn, Perkins khai rằng, để tránh tái diễn cuộc khủng hoảng dầu hoả như vào những năm 1970, ông ta được lệnh thuyết phục chính phủ Xê-út (1) không để dầu hoả chảy vào Mỹ bị gián đoạn, ở một giá “phải chăng”, (2) dùng tiền bán dầu hoả để mua ngân khố phiếu của Mỹ, (3) rồi lại dùng tiền lãi để thuê các tập đoàn kinh doanh của Mỹ “hiện đại hoá” A-rập Xê-út theo kiểu tây phương. Perkins khoe rằng ông đã biến A-rập Xê-út thành “con bò sữa có thể vắt đến ngày về hưu” cho ông và các sếp của ông, và tự đắc là “Bộ Ngân Khố Mỹ thuê chúng tôi, trả lương chúng tôi với tiền của A-rập Xê-út, để xây dựng cơ sở hạ tầng ở đó, thậm chí nhiều thành phố của họ là hoàn toàn do chúng tôi xây dựng”.

Sau vài chuyến công tác nữa ở Iran và Colombia, Perkins giải nghệ “sát thủ” năm 1980. Bị “lương tâm cắn rứt” từ đó đến nay, ông ta viết cuốn này (dù bị cản trở nhiều lần, ông ta nói).

Phải nhìn nhận rằng “Thú tội của một sát thủ kinh tế” quả hấp dẫn như truyện gián điệp: những cái chết bí ẩn, những buổi trưa làm tình vụng trộm, những thành phố nhiệt đới có vẻ kì bí đối với người phương tây, những cuộc trốn thoát trong đường tơ kẽ tóc. Tuy nhiên, đọc kĩ, có nhiều điều không ổn về tác phẩm lẫn tác giả này.

Trước hết, ai biết chút ít về thời cuộc, về chính trị thế giới, và không quá ngây thơ, hẳn sẽ không lấy làm lạ về những xì-căng-đan mà Perkins kể lại. Có ai lạ gì chuyện các nhà lãnh đạo những nước nhỏ, đang phát triển (và đôi khi của vài quốc gia đã phát triển) bị nước ngoài mua chuộc (bằng tiền hoặc bằng sex), bắt chẹt, hăm doạ, v.v. Thậm chí, áp lực này khai diễn một cách chánh thức, công khai, ngay trong những cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo, bị báo chí phanh phui hà rằm, lắm khi còn để lại dấu vết trong các hiệp ước thương mại. Đó là những chuyện “thường ngày ở huyện”. Có đại diện (thương mại, ngoại giao, quân sự..) nào của Mỹ (và hầu hết mọi nước khác) từ thấp đến cao, lại không sử dụng mọi thủ đoạn để đem lại lợi ích cho mình?

Đàng khác, chả lẽ lãnh tụ các nước chậm tiến không bao giờ phạm lỗi lầm, đưa quyết định sai về dự án này, kế hoạch nọ, và không tham ô? Cần gì những người như Perkins chỉ bảo, thúc giục? Quả vậy, Perkins ngầm tự hào là những người như ông bay sang các quốc gia đang phát triển để lừa bịp, gạt gẫm, song có thể chăng chính những “sát thủ kinh tế” này lại bị các lãnh tụ tham ô lợi dụng để vay tiền nước ngoài rồi bỏ túi riêng? Đúng là các tư vấn ngoại quốc hay thổi phồng triển vọng các dự án, song chắc gì chỉ các công ti ngoại quốc là thủ lợi?

Cái mới lạ ở cuốn này là Perkins kể những thủ đoạn của các nhà ngoại giao, nhà kinh tế (thường là nghiêm trang đạo mạo) dưới dạng hồi kí hấp dẫn như một truyện gián điệp đầy tình tiết li kì (có “sát thủ”, có rượu, có đàn bà, có án mạng, có hẹn hò giữa đêm khuya ở nhà ga, quán xá...), úp mở nghi vấn (nhưng không bằng cớ, thậm chí không đưa tên nhân chứng) về những “bí ẩn” trong cái chết của tổng thống Kennedy, tướng Torrijos của Panama, ngay cả của mục sư Martin Luther King… . Có thể Perkins nói thật, có thể ông nói phét. Làm sao biết được?

Hơn nữa, những chi tiết ông đưa ra lại làm cho người đọc thắc mắc thêm: cớ gì mà một công ti tư vấn to lớn, có uy tín lâu đời ở Boston lại chọn Perkins (lúc đó chưa đến 30 tuổi, mới xong cử nhân kinh doanh) để giao những sứ mạng quan trọng như vậy? Vài phân tích kinh tế của Perkins càng làm người đọc hoài nghi kiến thức của ông ta. Chẳng hạn, không ai hiểu biết về kinh tế lại so sánh doanh thu của xí nghiệp và GDP của quốc gia (hai phạm trù hoàn toàn khác nhau), để kết luận rằng công ti này “mạnh” hơn quốc gia nọ. Nhiều chi tiết trong sách là hoàn toàn sai. Chẳng hạn Perkins bảo rằng National Security Agency (cơ quan tuy rất lớn, song chỉ chuyên về mật mã) là một cơ quan kinh tế của chính phủ Mỹ, v.v. Cũng nên để ý là hầu hết kinh nghiệm của Perkins là khoảng 30 năm về trước.

Tóm lại, “Thú tội của một sát thủ kinh tế” là một cuốn sách hấp dẫn, “mua vui cũng được một vài trống canh,” và nếu người đọc chưa bao giờ nghe về những thủ đoạn lươn lẹo, dối trá, quỷ quyệt, hắc ám, của các đại công ti Mỹ (và chính sánh Mỹ nói chung) ở các quốc gia chậm tiến, thì cũng nên đọc để biết vài nét chính. Song, đối với những chi tiết về hành tung của tác giả, cũng như những gì mà ông không đưa bằng chứng, xin hãy ... tồn nghi.

Trần Hữu Dũng
Dayton, Ohio (Mỹ)
12-3-2006

Tải sách tại đây

Thứ Năm, tháng 6 10, 2010

Trương Gia Bình

Một số người nói với chúng tôi rằng, Trương Gia Bình – Chủ tịch HĐQT Cty FPT là một Nhân Vật Có Nhiều Ý Tưởng. Chúng tôi chưa bao giờ có dịp gặp gỡ ông Bình, một nhà khoa học được đào tạo trong môi trường Xô Viết trở thành doanh nhân, để trao đổi về điều đã làm cho ông trở nên khác biệt.
Hôm nay Trương Gia Bình ngồi trước mặt chúng tôi đây. Ông Bình đang chuẩn bị cho một buổi nói chuyện về các bí quyết thành công vào ngày hôm sau, mà nếu gạch đầu dòng ngắn gọn thì chúng bao gồm: khát vọng + nhìn được các điểm nút chiến lược + tập hợp được những người có năng lực để cùng vượt qua những khó khăn. Cao 1m73, nặng 88kg, cuốn sách đang đọc dở dang là “Cuộc đời tôi” (My Life) của Bill Clinton; ăn mặc theo lối càng ít thứ đeo khoác trên người càng tốt và thoải mái, có thể nhận xét sơ bộ rằng, ông Bình thuộc kiểu người cởi mở. Giọng nói của ông Bình khi phát âm chữ “R”, lưỡi vẫn rung nhẹ. Đó là “di sản” của nhiều năm học tiếng Nga và của quê hương miền Trung, cho dù ông ra Hà Nội sống từ năm 2 tuổi.

1. TS Bùi Quang Ngọc – bạn học cùng từ năm lớp 2 (năm học 1964-1965) tại trường Phương Đông – Hà Nội, người được coi là khá hiểu ông Bình. Theo ông Quang Ngọc, ngày ấy họ cùng ở phố Thợ Nhuộm. Nhà Quang Ngọc số 91, nhà Gia Bình ở số 86, chính là trụ sở của Sở Y tế Hà Nội (bố ông Bình là Trương Gia Thọ – một vị bác sỹ nổi tiếng thời bấy giờ). Trò chơi ấu thơ của họ thường cho cá vào lọ để cùng ngắm chúng chọi nhau cho đến khi ngã ngũ. Hai người học với nhau cả 3 năm cấp 3 ở trường chuyên toán Chu Văn An, cùng ngồi ở chiếc bàn cuối lớp. “Gia Bình học toàn diện. Dân chuyên Toán thường ít chú ý đến môn Văn cũng như các môn xã hội. Gia Bình lại là cánh ham mê môn Văn. Mỗi bài luận Bình bỏ rất nhiều thời gian nghiên cứu hàng đống sách chuyên đề rồi mới bắt tay vào viết. Tôi và nhiều bạn thường sử dụng các tư liệu mà Bình đã mất công tìm kiếm, thậm chí bắt trước cả cách phân tích, bình luận của Bình. Các bài Văn của Bình thường được được tham khảo mẫu khi trả bài. Bình hay nói về Triết học, trình bày các vấn đề dưới góc độ hoặc bằng ngôn ngữ Triết. Hồi đấy tôi chỉ thấy hay hay vì nó khác với những suy nghĩ tư duy thuần Toán, không biết đâu rằng đó chính là biểu hiện của những phẩm chất lãnh đạo mà sau này Bình mới thể hiện rõ. Năm 1974, khi sang Liên Xô, mỗi đứa một nơi, Gia Bình học khoa Cơ học trường Tổng hợp Matxcơva, còn tôi học Toán ở Kisinhốp. 1979, Bình được chọn làm chuyển tiếp nghiên cứu sinh, còn tôi về dạy Toán ở ĐHBK Hà Nội. Năm 1985, Bình về nước lập nhóm “Nhiệt và chất” ở Viện Cơ, bắt đầu làm kinh tế. Một tối đầu mùa hè năm 1988, Bình đến nhà tôi chơi. Trên cái sân gác tầng 2 thoáng mát ở phố Khâm Thiên, Bình say sưa nói về máy tính cá nhân và thuyết phục tôi tham gia nhóm của Bình để chuyển máy tính sang Liên Xô. Ngoài sự thân quen rất nhiều năm, Bình nhìn nhận tôi như một chuyên gia Tin học khi đó. Chính Bình đã biến tôi từ một giáo viên, một nhà khoa học thành một nhà kinh doanh công nghệ và quản lý doanh nghiệp như hôm nay” – TS Quang Ngọc nhớ lại. Khi ấy họ mới 32 tuổi. Và sau đó mấy tháng, FPT chào đời.

Tại sao một nhóm các nhà khoa học lại rủ nhau bỏ đi làm kinh tế? Ông Bình kể, thế hệ ông được hưởng thụ sự giáo dục về niềm tự hào dân tộc, sinh ra là người Việt Nam đã là điều hạnh phúc. Chúng ta là lương tâm của thời đại, và tin tưởng sâu sắc vào điều đó. Tuy nhiên khi đi ra thế giới, gặp phải một sự thật phũ phàng là không phải ai cũng tôn trọng chúng ta. Điều ấy là một nỗi đau từ khi bước chân ra khỏi nước. Ông Bình nhớ, những năm 1980, khi đang là CTV Viện Hàn lâm Xô Viết, hôm ra sân bay tiễn một bạn về nước, cảnh sát đã cầm cái hộ chiếu của cô gái này vứt toẹt xuống đất. Lúc đó mới thấm thía nghèo là hèn, hèn là nhục; cũng tóc đen da vàng nhưng cầm giấy tờ Nhật Bản thì người ta được kính trọng. Thứ nữa là khi về nước, một người bạn than thở, Bình ơi đói quá không nuôi nổi vợ con, mình phải làm cái gì đi chứ? Vượt lên nghèo khó vốn là một suy nghĩ chất chứa trong đầu từ lâu, và lần này thì nhóm những nhà khoa học này nhất quyết làm kinh tế.

2. Ông Bình cho rằng, câu chuyện lớn nhất của cuộc đời mình là FPT. Buổi ban đầu cái tên FPT gắn với công nghệ thực phẩm. Việt Nam là một nước nông nghiệp, ông Bình hy vọng vào các dự án viện trợ quốc tế trong lĩnh vực này, nó cũng là điểm xuất phát làm các đồ sấy khô của nhóm “Nhiệt và chất”. Nhưng doanh vụ lớn đầu tiên của FPT là đổi máy tính Olivetti lấy các loại hàng của Liên Xô vốn rất quen thuộc với Việt Nam thời bao cấp. Có thể nói giai đoạn 1988-1991 là giai đoạn đổi hàng Liên Xô. Giai đoạn 1991-1994 là giai đoạn tham gia thanh toán với Liên Xô (Nga) cho các công trình thủy điện, đồng thời Tin học đã là một hướng kinh doanh độc lập. Từ 1995, kinh doanh Tin học trở thành chủ đạo, các trung tâm định hướng kinh doanh ra đời trong FPT. 1998, sau 10 năm thành lập, FPT khẳng định vị trí số một trên thị trường Tin học của các ngành kinh doanh này và cũng là nhà ISP đầu tiên của Việt Nam . Trong quãng thời gian trên, ông Bình học hỏi rất nhiều mô hình tổ chức và quản lý của các Cty công nghệ hàng đầu, áp dụng những điểm phù hợp vào FPT. Nổi bật là việc lập và bảo vệ kinh doanh, check point nhân viên và xây dựng một hệ thông tin bảo đảm kiểm soát hiệu quả kinh doanh (Balance và FIFA). Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng hai của FPT là một sự kiện gây nhiều dư luận đến mức, hàng tháng sau dân Hà Nội vẫn còn bàn tán. Thông thường sau những thành công như thế thì người ta bắt đầu hưởng thụ. Nhưng Trương Gia Bình “không phải là người thường” (đánh giá của ông Hoàng Minh Châu, một nhân vật trong FPT). Ông chưa có ý định hưởng thụ và đã thuyết phục được hầu hết các cộng sự của mình có chung ý chí đó. Năm 1999, FPT chuyển sang toàn cầu hóa với việc tham gia xuất khẩu phần mềm. Đầu năm 2000, FPT là Cty Tin học đầu tiên đạt chứng chỉ ISO-9001. Năm 2000, triển khai thành công hệ kế toán Solomon theo chuẩn ERP quốc tế, hệ FIFA/MIS của FPT trở thành hệ thông tin doanh nghiệp tốt nhất tại Việt Nam . Năm 2002 doanh số FPT vượt 100 triệu USD; năm 2003 vươn lên trở thành nhà cung cấp điện thoại di động lớn nhất tại Việt Nam. Năm 2002, FPT trở thành Cty cổ phần, rồi tập đoàn hóa. Hiện FPT có khoảng 10 ngàn nhân viên và doanh số đã vượt ngưỡng 1 tỷ USD.

Thời điểm đầu những năm 2000, ông Bình tung ra lý thuyết Fractal (tính bất biến của cấu trúc) và Leadership Building (kỹ năng lãnh đạo), đồng thời phát động phong trào học tập các lý thuyết này trong FPT. “Không nhiều cán bộ FPT hiểu được các lý thuyết này, cũng như vận dụng chúng có kết quả. Là người lãnh đạo FPT trong những năm qua, Gia Bình có niềm tin vững chắc vào những giá trị mà FPT đã tích lũy được theo thời gian. Những giá trị đó rất nhiều cái xuất phát từ những ý tưởng của Bình. Nếu không hiểu FPT, hiểu những chặng đường FPT đã trải qua, thì cũng khó hiểu được những ý tưởng này. Bình là một nhà tư tưởng” – TS Bùi Quang Ngọc nhận xét – “Bình nhìn nhận FPT phải có đối ngoại, đối nội, có thông tin báo chí, có văn hóa, có kinh tế, có tinh thần, có đoàn thanh niên, có phụ nữ, có thiếu niên nhi đồng (FPT Small). Bình học ở quân đội ở cấu trúc Fractal, và thường xuyên tham khảo tư vấn các vị tướng quân đội, trong đó có Bác Văn. Thậm chí Bình học hỏi cách dùng người của Bác Hồ. Những nguyên lý của âm dương ngũ hành cũng được Bình áp dụng. Bên cạnh đó có nhiều tư tưởng của Bình được minh chứng qua thực tế, ví dụ như bản đồ gene Cty. Bình tự mình hì hụi phác thảo các chuỗi phân tử đầu tiên của bộ gene này”.

3. Để triển khai kinh nghiệm sống còn “con người là cốt lõi của thành công”, ông Bình đã từng phát động một chiến dịch cầu hiền tài. “Chiếu cầu hiền tài” của ông đăng trên tạp chí nội san và được nhiều báo khác đăng tải lại, đã gây xúc động mạnh trong giới trẻ. Hai câu lạc bộ tài năng trẻ FPT ra đời, quy tụ hầu hết những học sinh – sinh viên giỏi nhất nước, trong đó có nhiều em vừa đoạt các giải cao trong các kỳ thi toán học, tin học quốc tế. Một trong các nỗ lực cầu hiền tài đã đưa về FPT một ngôi sao sáng trong làng phần mềm Việt Nam lúc đó là Henry Hùng. Tinh thần “chiến tranh” được ông Bình phát động, để cho dễ nhớ, ông đã gói gọn mục tiêu của Cty vào 3 chữ số: 528. Số 5 chỉ 5000 lập trình viên chuyên nghiệp của FPT vào năm 2005, số 2 chỉ 200 triệu doanh số phần mềm xuất khẩu cũng vào năm đó, số 8 chỉ giá trị của Cty tại thị trường chứng khoán Nasdaq là 8 tỷ USD. Toàn thể nhân viên FPT hừng hực khí thế. Trở thành Cty bạc tỷ trong vòng mấy năm là một chuyện phi thường và ông Bình thổi vào bộ máy FPT quyết tâm làm chuyện phi thường.

Khẩu hiệu “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” sẽ vẫn tiếp tục chỉ là khẩu hiệu trong nhiều năm cho đến khi xuất hiện một tư duy mới: công nghiệp phần mềm là lối thoát duy nhất của Việt Nam . Từ vấn đề kinh tế, xuất khẩu phần mềm phải trở thành vấn đề chính trị, vì nó không chỉ mang về cho đất nước một ít ngoại tệ mà là mở ra cho đất nước một cơ hội phát triển. Ngày 5/6/2000, Chính phủ đã ban hành nghị quyết về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005 với mục tiêu: 50 ngàn lập trình viên, 500 triệu USD phần mềm xuất khẩu vào năm 2005. Ngày 17/10/2000, Bộ Chính trị – Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 8 đã ra chỉ thị 58-CT/TƯ, trong đó nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin đối với sự phát triển đất nước. Tiếp theo hai văn kiện quan trọng này là việc triển khai hàng loạt các chính sách ưu đãi: miễn thuế 4 năm cho các Cty phần mềm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, không áp dụng VAT với các sản phẩm phần mềm, thuế xuất nhập khẩu bằng không… đặc biệt các lập trình viên Việt Nam được tôn vinh, khi mức lương bắt đầu phải nộp thuế thu nhập nâng từ hai triệu lên tám triệu đồng. Các Cty phần mềm được sử dụng internet với tất cả các cổng dịch vụ không bị kiểm soát qua firewall, Nhà nước đầu tư vào các khu công viên phần mềm như Quang Trung, Hoà Lạc… “Những người làm phần mềm hân hoan thụ hưởng các chính sách mới này, nhưng không phải tất cả trong số họ đều biết đến công lao của ông Bình trong nỗ lực tác động hình thành chính sách” – ông Hoàng Minh Châu nhận xét.

4. Khi cần suy nghĩ, ông Bình cũng đốt thuốc, vẻ sôi nổi biến mất và thoáng rơi vào trầm tư. Ông Bình nhìn nhận, có ba ý tưởng quan trọng nhất trong cuộc đời mình.

Ý tưởng thứ nhất: Đưa chiến tranh nhân dân vào thương trường. Lịch sử Việt Nam là lịch sử chiến tranh vệ quốc và chiến thắng mọi kẻ thù hùng mạnh. Tại sao người Việt Nam sẵn lòng hy sinh, đổ máu cho quê hương, mà làm kinh tế lại có nhiều điều không ổn? Ông Bình để tâm học hỏi trực tiếp từ những vị tướng quân đội và sau này tự tổng kết trong bài “chiến tranh nhân dân ứng dụng vào quản trị kinh doanh”. Điều này ông đã dạy cho nhân viên FPT, đồng thời cũng chia sẻ với các doanh nghiệp trong khuôn khổ khoa Quản trị kinh doanh – ĐHQG Hà Nội, và ông cho rằng sức mạnh đó là riêng có của người Việt Nam, quốc gia khác, nền văn hóa khác khó lòng học được.

Ý tưởng thứ hai: Genetic. Khi nhìn ra thế giới xem có doanh nghiệp nào tồn tại lâu dài, tìm hiểu bí quyết tồn tại của nó, ông Bình nhận thấy thương hiệu Sumitomo – Nhật Bản đã có 400 năm tuổi, nhưng lại có một Cty Thụy Điển đã tồn tại tới 7 thế kỷ. Ông Bình phát hiện ra rằng, bất cứ một cái gì trường tồn phải có một cấu trúc hết sức đặc biệt và có thể đặt tên nó là genetic. Để thiết kế được một hệ thống gen trong Cty, ông Bình không biết phải bắt đầu như thế nào, cho dù hết sức ước mong và dù đã xem xét cả mã gien của người lẫn ruồi giấm. Khi FPT mới chỉ có 350 người, ông Bình tự so sánh với một dân tộc thiểu số Việt Nam cũng có 350 người. Một dân tộc đã tồn tại độc lập qua cả ngàn năm đến tận bây giờ, vì sao họ làm được điều đó? Ông Bình sửa soạn đi tìm dân tộc này nhằm quan sát cách thức họ sống, ăn nói, trồng cấy, sinh hoạt bên đống lửa… để tìm cấu trúc. Đang chuẩn bị đi thì lại vớ được một cuốn hương ước, và cho rằng hương ước hay hơn, nên thu thập rất nhiều về đọc. Ông Bình đã mơ hồ đoán được cấu trúc genetic nhưng vẫn không thiết kế nổi. Lúc này FPT xuất khẩu phần mềm sang Ấn Độ, ông Bình bắt đầu nghiên cứu các quan điểm ISO và nhận thấy sự minh bạch của bộ lệnh này, đồng thời nó là quy trình chung cho toàn bộ tập đoàn. Như là lá, bạn sẽ quang hợp, là hoa bạn sẽ di truyền vậy. Đồng thời tiêu chuẩn ISO có cả biến dị, bởi có cả giai đoạn check, tức là sau một vòng tuần hoàn phải kiểm tra xem có cải tiến được nó không? Thế là bản thiết kế bộ gien của ông Bình đã hoàn tất.

Rất nhiều người trong FPT phản đối mạnh mẽ, làm gì có cái khái niệm đó tồn tại trên đời, nhưng sau khi ông Bình bắt đầu triển khai làm thì điều này bắt đầu xuất hiện trong một số cuốn sách. Thật may có một người bạn thân của ông Bình hiểu. Để ép mọi người sử dụng, ông Bình gần như phải dùng tới “bạo lực, cưỡng chế”, bởi có thể cách ông Bình giải thích khó hiểu, hoặc cũng có thể mọi người không thích thay đổi. Genetic không chỉ là nhận thức sâu sắc về một tập đoàn, mà muốn vận hành nó sẽ phải chấp nhận trả giá bằng 30% thời gian của toàn bộ bộ máy nhân sự trong khoảng từ 1 – 2 năm. Vừa đúng dịp có cuộc xuất khẩu phần mềm, ông Bình đặt ra khẩu hiệu “Xuất khẩu hay là chết”, đồng thời cho vận hành genetic. Ông Bình đánh giá, đến nay bộ lệnh của FPT vẫn là bộ lệnh khác biệt so với các tập đoàn khác, bởi lẽ ông đã tìm mọi cách viết một bộ lệnh đầy đủ để duy trì sự trường tồn của lệnh này, cũng như cây cỏ trường tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là tìm cách bắt chước thiên nhiên. Ông Bình không biết FPT sẽ tồn tại được bao lâu, nhưng theo đúng như thiết kế thì cần phải liên tục hoàn thiện, khi đạt đến đẳng cấp thiên nhiên thì đương nhiên sự tồn tại sẽ được chấp nhận. Gen đòi hỏi mỗi tế bào phải thuộc bài, phải có hệ thống đào tạo nội bộ. Tại FPT lãnh đạo hành xử giống nhau, 10 người cũng như 10 nghìn người, phương thức giống nhau dù quy mô khác nhau, đều theo quân sự lệnh. Ý tưởng genetic có trong đầu ông Bình từ năm 1996, đến lúc xuất hiện tại FPT đã là năm 2003. Một quá trình đeo đẳng.

Ý tưởng thứ ba: Thác số. Ông Bình dự báo rằng sớm muộn gì cũng có một cuộc lật đổ, thay đổi vị trí các quốc gia trong tương lai. Ý tưởng này về sau người ta viết thành những cuốn sách rất nổi tiếng như “Thế giới phẳng”, còn ông Bình gọi nó là thác số. Bởi khi chưa có internet thì công việc nước nào nước ấy làm, nhưng khi internet ra đời sẽ có một dòng thông tin chảy từ chỗ có nhiều tin đến ít tin, từ chỗ nhiều tri thức đến chỗ ít tri thức, đồng thời sẽ có dòng công việc chảy theo dòng thông tin đó. Tương tự như việc phải chọn độ cao, ngăn đập để làm thủy điện. Trong thác số, nước là kỹ năng, một số lượng các kỹ năng, cụ thể trong công nghiệp phần mềm là tiếng Anh và lập trình. Ông Bình đẩy tiếp một bước nữa là “tạo nước” bằng việc mở trường Đại học, hiện nay FPT có khoảng 10 nghìn sinh viên, ngoài ra cũng đào tạo cho khoảng 50 ngàn sinh viên trong các hệ thống khác. Khi tích đủ lượng nước rồi thì ông Bình ngồi xoa tay xem các tổ máy phát điện vận hành. Các nước phát triển không ai đi viết lập trình cả, học thì khổ chết cha chết mẹ, ra đời lương lại không cao, họ thường làm các việc khác. Vì thế ông Bình cho rằng, trong tương lai các nước phát triển sẽ lười biếng, người ta vẫn giàu có nhưng đến một ngưỡng nào đó sẽ phải chấp nhận sự lật đổ. Thác số chính là cơ hội của đất nước, trong cái nghèo lại ẩn chứa một sức mạnh riêng.

5. Những năm 1980 khi đất nước đang rất khó khăn, ông Bình đã được mời sang Tây Đức làm việc. Sự lựa cuộc sống ở nước ngoài tương đối dễ dàng, nhưng ông nghĩ rằng không có nơi nào tốt hơn Việt Nam, mà ở Việt Nam thì phải ở Hà Nội, nơi ông đã lớn lên, nơi văn hóa, trí tuệ tinh túy của đất nước tụ hội, nơi ông cảm thấy “happy” hơn cả. Ông Bình kể với chúng tôi rằng, ông đã quan sát kỹ mặt trống đồng để cố gắng hiểu mật mã của quá khứ, và gọi nó là “một bộ gen được ghi nhận đơn giản về văn hóa người Việt, về triết lí sống người Việt. Ví dụ câu hỏi lớn nhất “hạnh phúc là gì?” Tôi thấy trên trống đồng vẽ một nhà mái cong, một người đàn ông, một người đàn bà, một đứa trẻ, một đấu gạo, trên nóc nhà có một con chim. Có thể thấy người Việt cổ quan niệm rằng, chúng ta là người hành phúc khi có một nơi để ở, có một gia để sống và có gạo để ăn. Kiểm nghiệm lại tôi thấy mình vô cùng hạnh phúc, đời tôi đã có một nơi ở, một gia đình và có gạo. Bất kể chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, tôi thấy tự tin vô cùng để có thể mạo hiểm. Làm kinh doanh phải chấp nhận mạo hiểm. Nhưng dù mạo hiểm đến đâu đi chăng nữa tôi vẫn đã có một gia đình, có người yêu thương mình”.

Ông Bình tự thiết kế cho mình một ngôi nhà bên Hồ Tây, sau khi đọc chán các sách về âm dương ngũ hành, phong thủy, và tìm hiểu một thứ là “bộ lệnh hài hòa”. “Ngôi nhà tôi là nơi đã bày trận đánh lớn: làm sao để Intel đầu tư vào Việt Nam , để TGĐ Intel đến nhìn thấy là choáng, họ thấy văn hóa Việt Nam mình hay quá. Đấy là một địa điểm chuyên dùng để kêu gọi xuất khẩu, kêu gọi đầu tư công nghệ cao, ông nào mà hoành tráng nhất thì tôi đón về nhà” – ông Bình không dấu được vẻ khoan khoái.

Kết thúc, ông Bình nói với chúng tôi: Có hai loại kiến thức, một loại có thể viết ra được thành lời, người ta gọi là kiến thức tường minh; một loại kiến thức không viết ra được mà chỉ có thể ngộ được. Đó là kiến thức ẩn, nó không thể tổng kết được mà là hệ quả của một quá trình quan sát, bắt chước và giác ngộ. Có lẽ ông Bình có chút lo lắng mơ hồ rằng, dân ngoại đạo chúng tôi vẫn còn chưa hết cảm thấy xa lạ chăng, với những ý tưởng ông vừa mới trình bày.

Trương Gia Bình nói điều đó với một điếu thuốc mới bắt đầu cháy trên tay.
Nguồn:http://huyminh.wordpress.com/2010/06/08/truong-gia-binh/

Thứ Bảy, tháng 6 05, 2010

Thấy gì từ báo cáo dòng tiền của doanh nghiệp

Doanh nhân và Pháp luật) Nhiều nhà đầu tư trên thị trường liên tục rơi vào các cạm bẫy của nghệ thuật kế toán của doanh nghiệp. Họ thường chú trọng vào lợi nhuận của doanh nghiệp công bố hơn là dòng tiền mà doanh nghiệp đó tạo ra cho chính mình. Bài viết này giúp cho nhà đầu tư biết được kỹ thuật đánh giá dòng tiền để biết được chất lượng của lợi nhuận công bố. Lê Đạt Chí – Khoa Tài chính doanh nghiệp, ĐH Kinh tế Tp.HCM

Lợi nhuận là bút toán
Để tạo ra lợi nhuận thật dễ dàng đối với một người làm kế toán nhưng để tạo ra tiền thì quả thật khó khăn. Lợi nhuận thường bị quản lý bởi các nhà quản trị trong công ty. Việc quản lý lợi nhuận là “sự can thiệp có mục đích bởi việc quản lý trong tiến trình xác định lợi nhuận, thường là để thỏa mãn các mục đích cá nhân”. Quản lý lợi nhuận nhằm tô điểm thêm các kỳ vọng của thị trường, nó không tạo ra thêm giá trị của dòng tiền. Có thể thấy, có nhiều động cơ quản lý lợi nhuận như:
(1). Động cơ vì các hợp đồng kinh doanh. Nhiều hợp đồng kinh doanh sử dụng các số liệu của kế toán chẳng hạn như các hợp đồng dự thầu, các hợp đồng tiền lương, thưởng của ban giám đốc và hội đồng quản trị được tính trên những số liệu kế toán này. Các giao kèo tiền lương, thưởng được xác lập trong một giới hạn dựa trên mức lợi nhuận mà công ty đạt được. Nếu không quản lý lợi nhuận trong các giới hạn này sẽ là một tổn thất lớn trong thu nhập của các nhà quản trị. Mặt khác các điều khoản nợ thường dựa trên những số liệu kế toán như thu nhập. Những xung đột của các điều khoản nợ sẽ là tốn kém cho các nhà quản trị công ty, chính vì vậy họ phải quản lý lợi nhuận nhằm giảm đi những tốn kém đó.
(2) Động cơ làm giá chứng khoán. Một động cơ khác tác động tiềm tàng đến giá chứng khoán. Chẳng hạn, một nhà quản trị có thể tăng lợi nhuận để tạm thời đẩy giá chứng khoán lên cho những mục đích “sang sạp” của mình hay vì mục đích phát hành chứng khoán…
Từ những bất cập của phương pháp kế toán phát sinh đã đưa đến nhiều chiến lược quản lý thu nhập khác nhau nhằm thực hiện được các mục tiêu của người quản lý. Tuy nhiên, bằng việc phân tích báo cáo dòng tiền sẽ giúp cho nhà đầu tư loại bỏ được một số nhược điểm này.
Dòng tiền là vua
Một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá giá trị thực của cổ phiếu đó chính là dòng tiền mà một doanh nghiệp tạo ra. Báo cáo dòng tiền cung cấp nguồn gốc dòng tiền của một doanh nghiệp, dòng tiền của một doanh nghiệp là cái có thực và là một khái niệm dễ hiểu, chúng không bị tác động bởi các nguyên tắc của hạch toán kế toán. Tuy nhiên, dòng tiền không thể đo lường giá trị tăng thêm trong ngắn hạn. Chẳng hạn, nếu một công ty gia tăng dòng tiền bằng việc cắt giảm đầu tư thì đó là một điều tồi tệ trong tương lai.
Như vậy, dòng tiền sẽ chịu tác động rất nhiều đối với các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển mà nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp cũng khác nhau, khả năng tạo ra dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cũng khác nhau…, đối với ngành nghề mà doanh nghiệp đó hoạt động cũng như triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp đó trong tương lai…
Chính vì vậy, một số chỉ tiêu tài chính khi phân tích báo cáo dòng tiền của doanh nghiệp thường được đề cập đến là dòng tiền hoạt động, dòng tiền tự do, sự kết hợp giữa các dòng tiền trong doanh nghiệp… nhìn vào báo cáo dòng tiền nhà đầu tư có thể đánh giá được chất lượng của thu nhập mà công ty tạo ra. Nó sẽ giúp cho nhà đầu tư loại bỏ những hoài nghi về việc sử dụng các phương pháp kế toán để tạo ra lợi nhuận.
Báo cáo luân chuyển tiền tệ
Một trong những tài liệu trong bộ báo cáo tài chính mà một doanh nghiệp cung cấp đến thị trường là bảng báo cáo luân chuyển tiền tệ. Báo cáo luân chuyển tiền tệ được phân thành ba dòng tiền khác nhau dựa trên ba hoạt động của một doanh nghiệp: Dòng tiền hoạt động sản xuất kinh doanh; dòng tiền hoạt động đầu tư; dòng tiền hoạt động tài trợ (thường được đề cập là dòng tiền hoạt động tài chính). Nói một cách dễ hiểu, hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp tạo nên dòng tiền hoạt động. Dòng tiền này chính là thực lực của doanh nghiệp, là thành phần quan trọng tạo nên giá trị nội tại của cổ phiếu đó (xem bảng 1)
Bảng 1: Tóm tắt báo cáo dòng tiền của công ty (đơn vị tính: tỷ đồng)
Khoản mục năm 2007 năm 2006
Lợi nhuận 203,866 54,007
Dòng tiền
- Dòng tiền hoạt động (756,215) (220,803)
- Dòng tiền đầu tư (69,121) (62,588)
- Dòng tiền tài trợ 856,658 282,395
Dòng tiền thuần 31,321 (996)
Một cách tổng quát, dù năm 2007 công ty tạo ra nhiều lợi nhuận nhưng dòng tiền thu về từ hoạt động kinh doanh này lại thâm hụt một cách trầm trọng. Nói cách khác, (1) Lợi nhuận của công ty không phải đến từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính, chủ yếu từ hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động thanh lý tài sản… (2) Việc tạo ra lợi nhuận chẳng qua chỉ là một nghệ thuật kế toán chuyển từ hàng tồn kho sang các khoản phải thu. Nghĩa là công ty ghi nhận trước doanh thu bán hàng của mình. (3) Việc bán hàng đã thực hiện quá mức mà công ty không đánh giá được những rủi ro từ khả năng thanh toán của mình. Việc mở rộng quá mức chính sách bán hàng sẽ là mối nguy trong thanh toán. Nói cách khác công ty đã quá chú trọng vào việc bán hàng mà không xem xét đến khả năng thu nợ. Nếu các khách hàng gặp vấn đề trong thanh toán sẽ là một thiệt hại lớn đến dòng tiền công ty. (4) Việc có được lợi nhuận cũng có thể đến từ những bút toán định giá lại hàng tồn kho bằng cách bán hàng rồi sau đó mua lại hàng đã bán. Điều này giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu doanh số và lợi nhuận, nhưng khoản lợi nhuận này chính là do công ty định giá lại hàng tồn kho. Nhất là trong điều kiện lạm phát như VN thời gian qua, một công ty kinh doanh vật liệu xây dựng, sau khi mua hàng, giá vật liệu tiếp tục tăng, điều đó cho thấy công ty có lợi nhuận nhiều nhưng công ty lại không bán ra lô hàng này mà tiếp tục gim giữ trong kho. Trong khi đó, báo cáo cần phải được lập, lợi nhuận cần được công bố, công ty thực hiện bút toán bán hàng cho một đối tác sau đó mua lại từ đối tác này lô hàng này với giá đã bán. Cả đối tác và công ty không bị thiệt hại gì ngoại trừ những hóa đơn bán hàng. Điều đáng lưu ý là công ty không thực sự bán hàng, chỉ bán trên chứng từ kế toán. Không chỉ dừng lại ở đó, dù giá hàng hóa không tăng, các nhà quản lý cũng có thể thực hiện được. Điều này cho thấy, có nhiều mối hoài nghi để yêu cầu một nhà đầu tư cần phân tích chi tiết báo cáo dòng tiền để tìm ra chất lượng thu nhập.
Một công ty trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng có thể chấp nhận một sự thâm hụt trong dòng tiền hoạt động, họ cần chi ra nhiều tiền để có được doanh thu như tiền quảng cáo, tiếp thị, hậu mãi, chính sách bán hàng ưu đãi hơn so với đối thủ… Nếu một sự thâm hụt này không đi liền với giai đoạn này sẽ đẩy công ty đến bờ vực phá sản. Một nhà đầu tư không nên mua cổ phiếu của những công ty này vì thực lực của công ty đang suy yếu. Một công ty được xem là cổ máy tạo ra tiền cho nhà đầu tư khi dòng tiền hoạt động thặng dư và gia tăng đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đầu tư cần thiết cho việc phát triển của mình. Nói cách khác công ty này đang có dòng tiền tự do dương. Khi dòng tiền này thặng dư thì doanh nghiệp mới dùng tiền để chi trả cho các cổ đông của mình dưới nhiều hình thức như chi trả cổ tức bằng tiền.
Nhiều doanh nghiệp của VN thời gian qua cho thấy tại sao lợi nhuận tạo ra nhiều nhưng công ty không chi trả cổ tức bằng tiền hoặc có nhưng rất thấp bởi một lý do đơn giản là công ty không có tiền để chia. Nhìn vào bảng 1, dù năm 2007 công ty có mức tăng trưởng lợi nhuận đến 277,4% nhưng dòng tiền hoạt động lại thâm hụt trầm trọng, việc thâm hụt này kết hợp với nhu cầu đầu tư đã đẩy công ty đến việc gia tăng huy động vốn từ bên ngoài. Dòng tiền tài trợ bên ngoài đã gia tăng đáng kể. Nếu công ty không thể vay nợ trong tình hình thắt chặt chính sách tín dụng của ngân hàng nhà nước thì liệu rằng công ty có mức tăng lợi nhuận được không? Trong điều kiện TTCK ảm đạm, công ty có phát hành thêm cổ phiếu để bù đáp cho thâm hụt không? Khi không có những nguồn tài trợ này công ty có tồn tại được không trước những khoản nợ khó đòi,… Tiền công ty chắc chắn thiếu hụt bởi mối đe dọa này. Khi không đủ tiền đáp ứng nhu cầu kinh doanh thì việc sụt giảm lợi nhuận trong năm 2008 và trong tương lai là chuyện đương nhiên. Vậy, một nhà đầu tư có nên mạo hiểm cho kế hoạch đầu tư của mình vào công ty này không? Đầu tư còn được xem là một cuộc đánh cược, nhưng một nhà đầu tư theo giá trị họ sẽ không mạo hiểm số tiền của mình trước cuộc chơi này.
Phân tích báo cáo dòng tiền
Một trong những vấn đề thường vấp phải khi phân tích, các nhà đầu tư bị ánh hào quang lợi nhuận của công ty che lấp nên sẵn sàng trả giá cao cho cổ phiếu này. Ở đây, nhà đầu tư cần bình tĩnh để trả lời những hoài nghi từ quá trình phân tích: Tại sao lợi nhuận năm 2007 tăng cao hơn rất nhiều năm 2006 nhưng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trở nên thâm hụt trầm trọng. Chính bản thân dòng tiền âm là một ẩn số lớn của giá cổ phiếu công ty này. Dòng tiền hoạt động âm cho thấy nội tại doanh nghiệp có vấn đề, lợi nhuận cao nhưng dòng tiền thì không có.
Bảng 2: Chi tiết báo cáo dòng tiền hoạt động của công ty (đvt: tỷ đồng)
Khoản mục năm 2007 năm 2006
I. Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh - -
1. Lợi nhuận trước thuế 237,153 54,007
2. Điều chỉnh cho các khoản: - -
- Khấu hao tài sản cố định 21,845 14,723
- Các khoản dự phòng 3,805 4,517
- Lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện 934 -
- Lãi, lỗ từ hoạt động đầu tư 156 -
- Chi phí lãi vay 41,084 16,528
3. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động 304,976 89,774
- Tăng, giảm các khoản phải thu (880,493) (285,490)
- Tăng, giảm hàng tồn kho (168,574) (54,936)
- Tăng, giảm các khoản phải trả 56,710 28,479
- Tăng giảm chi phí trả trước (11,754) 4,285
- Tiền lãi vay đã trả (27,982) (16,528)
- Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp (17,076) (2)
- Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh 851 13,614
- Tiền chi khác từ hoạt động kinh doanh (12,873) -
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (756,215) (220,803)
Như vậy, nhìn vào báo cáo dòng tiền của công ty này đã cho thấy việc thâm hụt chủ yếu đến từ việc gia tăng các khoản phải thu, công ty đã mạnh tay mở rộng chính sách tín dụng mà không biết khả năng trả nợ của khách hàng… Những đánh giá của nhà đầu tư đến vấn đề tín dụng của doanh nghiệp là rất cần thiết cho việc tìm ra chất lượng thu nhập. Nếu có rủi ro trong thanh toán sẽ đẩy công ty đến một sự thiệt hại rất lớn cho các cổ đông. Những rủi ro có thể xảy ra cho các khoản phải thu (nợ xấu) sẽ làm thất thoát tài sản của công ty và lẽ dĩ nhiên là thất thoát tiền của các cổ đông nên giá cổ phiếu sẽ sụt giảm. khoản mục thứ 2 cần quan tâm chính là việc đầu tư vào hàng tồn kho nhiều đã tiêu tốn nhiều tiền của công ty, làm trầm trọng thêm cho việc thâm hụt hày.
Vấn đề thứ 2 chính là khi dòng tiền hoạt động không đủ tài trợ cho các hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của công ty thì công ty lệ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài. Điều này cho thấy, việc gia tăng tài trợ bên ngoài rất mạnh để tài trợ cho việc đầu tư vào các khoản phải thu và hàng tồn kho của công ty. Một sự thất thoát các khoản phải thu và hàng tồn kho sẽ đe dọa đến nghĩa vụ của các chủ thể tài trợ. Nói cách khác việc có được lợi nhuận là nhờ vào việc tài trợ bên ngoài. Lúc này, nhà đầu tư cần phải phân tích các thành phần tài trợ đó.
Một điều cho thấy rằng, trong năm 2007 công ty phát hành thêm cổ phiếu để huy động và vay vốn ngắn hạn cũng như dài hạn từ ngân hàng (xem bảng 3). Như vậy, phải chăng lợi nhuận có được có nguồn gốc từ sự đóng góp vốn của chính các cổ đông? Lợi nhuận này có còn tiếp tục trong năm 2008 khi mà TTCK không khả quan? Việc phát hành cổ phiếu không thuận lợi? Chắc chắng một nhà đầu tư không muốn mình bỏ tiền vào công ty để có được lợi nhuận. Đồng thời một tác nhân quan trọng chính là nợ vay. Việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay cho việc tăng trưởng lợi nhuận của công ty trong năm 2007 có tiếp diễn trong năm 2008 khi mà lãi suất trên thị trường liên tục gia tăng. Việc thắt chặt chính sách tiền tệ của nền kinh tế có giúp cho công ty dễ dàng vay nợ để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh và có được lợi nhuận không?... đến đây, nhà đầu tư đã phần nào nhận ra chất lượng lợi nhuận mà công ty công bố. Việc gia tăng lợi nhuận này đã làm tổn hại đến các nhà đầu tư về nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Dòng tiền hoạt động càng trở nên thâm hụt hơn khi nghĩa vụ nộp thuế càng cao. Với tư cách là một nhà quản trị, họ phải giảm thiểu số tiền nộp thuế thu nhập doanh nghiệp để gia tăng dòng tiền cho các cổ đông của mình. Thế nhưng công ty này không làm được điều này, và trong tương lai, công ty không thể cho các cổ đông của mình những dòng tiền đích thực.
Khi nhà đầu tư bình tĩnh trả lời những vấn đề cơ bản trên sẽ giúp xác định được đâu là nguồn gốc của lợi nhuận. Điều này cũng đồng nghĩa với việc xác định giá trị cổ phiếu trong tương lai khi các yếu tố trên trở nên bất lợi.
Bảng 3: Báo cáo dòng tiền tài trợ (đơn vị tính: tỷ đồng)
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận góp vốn của chủ sở hữu 427,054 240
Tiền chi trả góp vốn cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp đã phát hành - (908)
Tiền vay ngắn hạn, dài hạn nhận được 935,632 374,842
Tiền chi trả nợ gốc vay (503,223) (89,617)
Tiền chi trả nợ thuê tài chính - -
Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu (2,805) (2,162)
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính 856,658 282,395
Chính dòng tiền từ nội tại của quá trình kinh doanh của mình bị thâm hụt hoặc không đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh sẽ là nguy cơ lớn trong tương lai, đe dọa đến khả năng tăng lợi nhuận trong năm và những năm tới. Sự phát triển công ty phụ thuộc chủ yếu các nguồn tài trợ bên ngoài sẽ làm gia tăng rủi ro tiềm ẩn trong tương lai. Chính những yếu tố này tạo nên nhiều cú sốc về giá cổ phiếu của công ty khi các yếu tố cơ bản của nền kinh tế không thuận lợi.
Một điểm đáng lưu ý nữa chính là các thành phần của dòng tiền hoạt động đầu tư. Dòng tiền hoạt động đầu tư có thể được phân chia thành hai nhóm. (1) Đầu tư tài sản cố định (hay còn gọi là chi tiêu vốn), dòng tiền này sẽ giúp cho công ty tăng trưởng trong tương lai, công ty sẽ gia tăng được dòng tiền hoạt động vì khả năng mở rộng thị trường của mình. Dòng tiền chi ra này rất cần thiết cho sự phát triển và cạnh tranh lại các đối thủ của công ty. Việc thâm hụt này trở nên có vấn đề khi công ty đầu tư sang lĩnh vực khác. Vì đầu tư sang lĩnh vực mới sẽ làm khuyếch đại thêm rủi ro và khả năng quản trị rủi ro kém sẽ dẫn đến sự phá sản. (2) dòng tiền đầu tư tài chính. Dòng tiền này bao gồm đầu tư chứng khoán vì mục đích thương mại và đầu tư góp vốn vào công ty con, đầu tư dài hạn khác. Việc gia tăng dòng tiền này một mặc sẽ gia tăng rủi ro và đồng thời nếu quản trị tốt chỉ làm gia tăng dòng tiền đầu tư. Nó ít tác động đến dòng tiền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên nếu đầu tư vào những công ty con để phát triển thành một tổ hợp khép kín sẽ cần thiết với một chiến lược kinh doanh phát triển thành tập đoàn. Nhưng một sự đầu tư góp vốn vào lĩnh vực khác sẽ là điều đáng lo ngại cho các cổ đông. Việc chuyển nhượng những phần vốn góp này không dễ dàng khi hoạt động kinh doanh cần tiền để duy trì sự hoạt động.
Việc phân tích báo cáo dòng tiền sẽ giúp cho nhà đầu tư đánh giá được chất lượng thu nhập trong tương lai làm nền tảng cho việc xác định giá trị thực để đầu tư. Việc phân tích báo cáo dòng tiền của công ty sẽ giúp nhà đầu tư tìm thấy được nhiều ẩn số dưới những tảng băng lợi nhuận mà công ty công bố. Không nên rơi vào những cạm bẫy lợi nhuận của công ty để rồi trả giá cao cho cổ phiếu của họ.

Theo Doanh nhân và Pháp luật
Tải bài viết tại đây

Chủ Nhật, tháng 4 25, 2010

Bí mật văn hóa sau những thành công

Bài viết này của Anh Hoành Minh Châu-Phó Tổng Giám đốc tập đoàn FPT được đăng tại diễn đàn của FPT. Thấy tâm đắc với những suy nghĩ của anh về văn hóa công ty, những chia sẻ của anh thật đáng giá và quý báu. Xin phép tác giả cho chép lại để chia sẻ với mọi người.

Bí mật Văn hóa sau mỗi thành công

Trong buổi giao lưu với anh Hoàng Minh Châu về chủ đề “Những bí mật văn hóa đằng sau các thành công kinh doanh”, nhiều ví dụ kinh tế và xã hội đã được anh Châu và các thành viên FLI Club cùng đưa ra thảo luận và phân tích. Đó có thể là câu chuyện thành công, cũng có thể là câu chuyện thất bại, nhưng ẩn chứa đằng sau mỗi sự thành công hay thất bại đó đều có ít nhiều sự đóng góp của văn hóa.
Văn hóa nên được hiểu là gì? Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hóa, tuy nhiên định nghĩa chính xác nhất lại chính là cách hiểu tổng quát nhất: Văn hóa là cách sống. Và cách sống hàng ngày có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, dân tộc hay là cả nhân loại. Bài viết này tóm lược một vài câu chuyện được chia sẻ trong buổi giao lưu với anh Châu.

Câu chuyện 1: Vai trò của STCo

Chuyện kể từ một dự án nọ thuộc FPT, trong một lần đi ký hợp đồng với khách hàng nước ngoài. Sau nhiều cuộc đàm phán, tình thế càng ngày càng khó khăn cho phía ta. Đến phút cuối, khách hàng thông báo rằng FPT không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, nên không thể hợp tác với FPT. Phía ta sau rất nhiều nỗ lực, cũng nhận thấy không thể cố gắng hơn được nữa. Hai bên đồng ý kết thúc đàm phán.
Trong bữa ăn cuối cùng trước khi chia tay, người FPT với tinh thần STCo, cao hứng quyết định hát tặng khách hàng một bài. Đó là bài “Đoàn FPT”. Rồi vẫn với tinh thần STCo, người FPT mải vui, hát hết bài này tới bài khác. Mục đích chỉ để lưu lại trong khách hàng một chút kỷ niệm có phần đặc biệt về FPT.
Thật bất ngờ, ngày hôm sau phía khách hàng chủ động liên lạc lại, thông báo quyết định sẽ ký hợp đồng với FPT. Nguyên nhân rất đơn giản: Chứng kiến người FPT đồng thanh hát tập thể nhiều bài hát với nhau, họ cảm nhận rằng đây là một tập thể đoàn kết, có tinh thần đồng đội, có thời gian làm việc với nhau lâu dài nên đã hiểu nhau và có văn hóa chung. Điều này khiến họ tin tưởng rằng có thể hợp tác với ta, những khuyết điểm khác hoàn toàn có thể khắc phục được.
Văn hóa STCo – thứ văn hóa nội bộ vốn dĩ tưởng chỉ để anh em trong nhà tự trào, giải trí với nhau trong lúc căng thẳng, thì ra lại có những giá trị nhất định, tạo ra một hình ảnh tốt với khách hàng. Nghe đồn, sau thành công của dự án này, một lần khác, 1 dự án khác cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự, giám đốc dự án sau khi đã giở hết võ mà ko ăn thua, lại giở tới bài hát hò, và cuối cùng lại… thắng.
Câu chuyện nhỏ này hình như đã được ghi trong sử ký hay sách Đồng đội, như 1 minh chứng về sức sống và vai trò của STCo. Có còn đáng tin ko, hay chỉ còn là truyện trong truyền thuyết?
Ngày nay chỉ còn thấy các cụ vẫn còn ca ngợi STCo. Anh Bình thì cho STCo vào chữ “Đổi" trong Tinh thần FPT. Anh Châu thì nghiên cứu hẳn sách của Trần Ngọc Thêm để định nghĩa văn hóa STCo như 1 nền văn hóa so sánh ngang với Văn hóa Phương Đông và Văn hóa Phương Tây. Anh Nam thì vẫn phong cách “vừa đi đường vừa kể chuyện”, thỉnh thoảng lại viết chuyện gặp khách hàng và được khen ngợi văn hóa FPT ra sao. Còn thế hệ trẻ càng về sau, càng không còn thấy STCo có ảnh hưởng nhiều tới mình nữa. Văn hóa FPT sau 20 năm, như ai đó đã nói, như 1 đoàn tàu nối thêm toa, càng ngày toa cuối càng xa toa đầu, gắn kết càng lúc càng rời rạc.

Câu chuyện 2: Thành công của Nhật Bản

Câu chuyện về một trong những láng giềng châu Á của chúng ta – Nhật Bản. 50 năm trước, sau CTTGII, Nhật Bản là 1 trong những đất nước bị tàn phá nặng nhất, với 2 quả bom nguyên tử phá hủy 2 thành phố lớn. Từ một nước đế quốc hùng mạnh, Nhật Bản biến thành đống tro tàn. 30 năm sau, trong khi phe thắng trận vẫn còn hân hoan với chiến thắng, thì đất nước thua trận, bằng một cách nào đó, đã âm thầm lặng lẽ vươn lên, dần thống lĩnh các lĩnh vực công nghệ, và trở thành một trong những cường quốc lớn nhất thế giới.
Có chuyện gì đã xảy ra? Người ta kinh ngạc tìm kiếm những bí mật thành công của Nhật Bản. Làm thế nào mà Nhật Bản đã lột xác một cách thần kỳ như thế? Các phương thức kinh doanh, phương thức sản xuất của các tập đoàn lớn của Nhật Bản được phân tích và coi là “kinh thánh” trong kinh doanh.
Người Nhật khi được hỏi về sự trỗi dậy thần kỳ này chỉ khiêm tốn trả lời: Nhật Bản là một đất nước không có tài nguyên. Trong hoàn cảnh khó khăn, người Nhật chẳng còn cách nào khác ngoài việc nỗ lực hết sức để vực lại đất nước của mình.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, lý giải từ một góc nhìn khác, sự thành công của Nhật Bản có đặc điểm rõ rệt xuất phát từ văn hóa.

Chúng ta đều biết tới tầng lớp Samurai – tầng lớp võ sĩ Nhật Bản như một nét đặc trưng trong văn hóa Nhật. Tầng lớp võ sĩ Nhật Bản ra đời từ thời kỳ đầu của lịch sử, với nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quyền lực cho các lãnh chúa và các dòng họ quý tộc. Samurai sống và hành động luôn đề cao nguyên tắc: “Nhiệm vụ là cao nhất; danh dự là thứ nhì và cái chết chỉ là chuyện nhỏ”. Qua nhiều giai đoạn lịch sử, samurai luôn là tầng lớp gây ảnh hưởng lớn tới toàn bộ xã hội Nhật, và những nguyên tắc của họ đã tạo ra nguyên tắc chung cho người Nhật. Trong chiến đấu là tinh thần sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ, trong kinh doanh và lao động là tinh thần làm việc nghiêm túc, coi công việc, nhiệm vụ là thứ quan trọng nhất. Điều này đã thúc đẩy tạo nên những thành công vượt bậc của nước Nhật dù là trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Với khẩu hiệu “Hòa bình và tiến bộ” đi liền theo lịch sử phát triển, nước Nhật tránh mọi đối đầu, tiếp thu nhanh chóng những giá trị tiến bộ của thế giới, dung nạp nó vào văn hóa riêng một cách phù hợp. Thế kỷ 19 khi Hải quân Mỹ mang pháo đến Nhật Bản phô trương thanh thế, Nhật Bản bắt tay với Mỹ, tránh được cuộc chiến đẫm máu, đồng thời mở ra thời kỳ lịch sử Thiên Hoàng Minh Trị hùng mạnh của mình.

Điều đáng nói là mặc dù là đất nước châu Á học ở phương Tây nhiều nhất, nhưng Nhật Bản cũng là nước bảo tồn được văn hóa truyền thống của mình nhiều nhất. Ngày nay, dù xã hội Nhật đã phát triển vượt bậc với đời sống vô cùng hiện đại, các giá trị văn hóa truyền thống vẫn được bảo toàn trọn vẹn. Nghệ thuật truyền thống Nhật Bản như ikebana, origami, kabuki, kịch nō, trà đạo, v.v.. thu hút sự quan tâm, trở thành các di sản văn hóa thế giới. Ẩm thực Nhật Bản hiện nay là một trong những nền ẩm thực nổi tiếng nhất trên thế giới. Chiếc áo kimono truyền thống vẫn có giá hàng triệu đô. Sự bảo toàn nguyên vẹn này cùng với sự quảng bá văn hóa tốt ra thế giới đã xây dựng nên hình ảnh một đất nước Nhật Bản vừa tiến bộ, vừa đậm đà bản sắc.

Sự tỉ mẩn, cầu kỳ, tinh tế được thể hiện trong văn hóa Nhật Bản đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong cách làm việc của người Nhật. Những sản phẩm của Nhật Bản luôn được gắn với cụm từ “chính xác”, “hoàn hảo” vì những yêu cầu khắt khe trong từng bước, từng công đoạn, từng chi tiết. Ví dụ đơn giản nhất: với 1 món quà tặng khách, chúng ta thường quan tâm tới hình thức gói bọc và chất lượng quà tặng, còn một món quà tặng khách của người Nhật được chuẩn bị chu đáo từ gói bọc, chất lượng món quà tới hộp đựng quà – thứ mà chúng ta ít khi để ý.


Với những đặc điểm nổi bật đó, người ta tin rằng Nhật Bản sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa, và sẽ là một trung tâm mới tạo ra sự dịch chuyển sức mạnh thế giới từ phương Tây sang phương Đông trong tương lai.

Câu chuyện 3: Nghĩ về Việt Nam

Cũng trong mạch chuyện về văn hóa và những ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội, lại nhìn nước bạn như 1 bằng chứng sống về sức mạnh ngầm của văn hóa, nghĩ về Việt Nam và việc bảo tồn sức mạnh của văn hóa truyền thống, chúng ta thấy còn nhiều điều cần xem xét.
Gần gũi nhất, Hà Nội sắp bước vào dịp đại lễ 1000 năm. Chúng ta hay có câu nói “Hà Nội ngàn năm văn hiến” để ngợi ca nền văn hiến giàu truyền thống. Tuy nhiên, lại ít người nói “Hà Nội ngàn năm văn vật”.
Sự khác biệt ở đây là gì?
Văn hiến là một khái niệm trừu tượng. Văn hiến nói lên xu hướng luôn luôn khắc phục tình trạng nguyên sơ lạc hậu và thấp kém để vươn tới cuộc sống ngày một tiến bộ hơn, cao đẹp hơn. Văn hiến Hà Nội (là biểu trưng cho nền văn hiến của cả nước), khẳng định rằng Hà Nội ta có 1000 năm phát triển, 1000 năm vươn lên tới các giá trị tiến bộ. Tuy nhiên, để tìm kiếm “văn vật” – các đồ vật, di tích thể hiện bề dày của nền văn hiến đó thì hầu như không có.
Vì sao chúng ta ít giữ được văn vật? Có thể nói việc bị đô hộ trong cả nghìn năm là một cản trở lớn, khi các thế lực phương Bắc luôn tìm cách tiêu hủy văn hóa truyền thống của Việt Nam. Tuy nhiên bên cạnh các lý do khách quan, Việt Nam còn có 1 đặc điểm tiêu biểu: khả năng tiếp thu truyền thống của người Việt Nam thấp. Mỗi thế hệ mới đi lên đều muốn xây dựng một trang sử mới, xây dựng một nền văn hóa mới, xóa bỏ hết những “tàn dư”, những cái cũ.
Lịch sử đã chứng minh sự thật rằng mỗi triều đại phong kiến mới lên đều cố gắng thay đổi tư tưởng cũ, xóa bỏ những cái cũ, từ các công trình kiến trúc, các tác phẩm văn học, các danh nhân v.v..
Vì thế các công trình truyền thống của Việt Nam dù có nhiều nhưng đến thời nay hầu như mai một. Trong rất nhiều loại hình nghệ thuật VN, chỉ có ca trù, quan họ được Unesco công nhận. Trong khi chúng ta còn rất nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống khác như chèo cổ, chầu văn v.v.. Bởi vì tới ngày nay chỉ còn ca trù, quan họ giữ được bản sắc cổ, còn những loại hình nghệ thuật khác hầu như đã mai một hết bản sắc. Chèo cổ trước kia có khoảng 50 vở, đến ngày nay chỉ còn 2 vở: Quan âm thị kính và Xúy vân giả dại (mất kịch bản). Còn lại, tất cả các vở chèo khác đều là chèo cải biên
Một ví dụ khác là trang phục truyền thống của người Việt. Chiếc áo dài được coi là trang phục truyền thống Việt Nam hiện nay thực chất ra đời đầu thế kỷ 19. Nó đã thay thế luôn chiếc áo tứ thân mớ ba mớ bảy – chiếc áo truyền thống sống trong nhiều thế kỷ.
Sự mất mát các bằng chứng sống về truyền thống khiến việc xây dựng hình ảnh và thương hiệu của Việt Nam không rõ ràng. Dù luôn khẳng định Việt Nam "đậm đà bản sắc dân tộc", nhưng chúng ta không có cái để chứng minh rằng chúng ta có nền văn hóa riêng, không có tài liệu để mô tả cho thế hệ con cháu hiểu đúng. (Bộ phim Lý Công Uẩn phải mang sang Trung Quốc đóng, phục trang Trung Quốc, phim trường Trung Quốc) Dù thực tế chúng ta có khoảng gần 3000 năm dựng nước, không ít người nước ngoài cho rằng Việt Nam là một phần được tách từ Trung Quốc.
Ngày nay, khi ý thức về sự mất mát của văn hóa truyền thống bắt đầu hình thành, chúng ta đang có nhiều hoạt động nhằm khôi phục truyền thống. Đáng buồn là rất nhiều trong số đó không phải là sự khôi phục đích thực, nếu không muốn nói là phá hoại. Nhà cổ (Đường Lâm) được dỡ ra để dựng lại, hay xây lại những ngôi chùa mới với cái tên cũ, trên chính nền của những ngôi chùa cổ là những ví dụ.
Chúng ta cố gắng giữ nghệ thuật truyền thống bằng cách đưa chèo, tuồng, cải lương vào đời sống hiện đại với những vở cải biên, trang phục hiện đại, vấn đề thời đại nhưng được hát theo giai điệu cổ. Đáng tiếc đó không phải là cách đúng để giữ bản sắc, nếu không muốn nói là rất khó tiếp thu, thậm chí nhiều khi gây phản cảm.
Ngay với chiếc áo dài, thì chiếc áo dài hôm nay cũng không còn giữ đúng nét thiết kế ban đầu. Qua mỗi năm, áo dài lại được cách tân theo các phong cách thiết kế mới, được chấp nhận rộng rãi và xa rời nguyên bản. Ngày nay thiếu nữ có thể mặc áo dài không cổ, tà ngắn với… quần bò.
Chúng ta thường lý giải những tùy biến này là 1 nét tính cách đặc trưng: "linh hoạt". Linh hoạt nên dễ chấp nhận mọi hoàn cảnh, tùy cơ ứng biến, tiếp thu tất cả các giá trị bên ngoài. Một ví dụ rất hay do anh chàng Dâu Tây phát hiện và chia sẻ, đó là khi đi qua nhiều nước, anh luôn thích thú với câu chào bằng tiếng bản xứ của họ. Ở Trung Quốc là "Ni-hao", Thái Lan là "Sawadikha", Nhật Bản là "Konichiwa", thì chỉ riêng ở Việt Nam, 100% người anh chàng Dâu Tây gặp đều chào anh "Hê-lô", chứ không phải là "Xin chào", "Chào anh" bằng tiếng Việt. Và cái sự làm hài lòng khách bằng câu chào "Hê-lô" (chứ không phải Hello) lại khiến nhiều khách phải ngạc nhiên và thắc mắc - Vì sao người Việt Nam lại không chào khách bằng tiếng Việt.
Ví dụ này cho thấy chúng ta đôi khi trân trọng thứ bên ngoài hơn cả bản chất của mình. Tới một thời điểm nhất định, chúng ta khó có thể xác định gốc rễ của mình là gì. Quay trở lại với sự kiện kỷ niệm 1000 năm Thăng Long "linh thiêng, hào hoa". Những giá trị linh thiêng hào hoa đó là gì, và đến thời điểm này ra sao ? Nhà cổ có còn không, hay thực tế chỉ còn là nhà khổ? Bản chất người Hà Nội gốc là gì, hào hoa hay dân kẻ chợ? Đó vẫn còn là điều đáng bàn cãi.

Câu chuyện 4 : Triết lý thơ tứ tuyệt

Hồi còn học phổ thông, chúng ta được biết tới thể thơ Tứ tuyệt. Tứ tuyệt là dạng thơ đặc trưng trong đó mỗi bài chỉ có bốn câu, mỗi câu có thể 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ... Chỉ ngần ấy chữ, nhưng nhà thơ phải diễn tả trọn vẹn tâm tình ý tứ. Luật thơ Tứ tuyệt giao cho bốn câu thơ bốn nghĩa vụ rõ ràng: Khai – Thừa – Triển – Hợp. Câu thứ nhất Khai mở vấn đề, Câu thứ hai Thừa kế từ câu thứ nhất, nói rõ vấn đề, Câu thứ ba phát Triển vấn đề, có thể sang hẳn một ý khác. Câu thứ tư, quan trọng hơn cả, có nhiệm vụ tổng hợp vấn đề để cả 4 câu thơ nằm chung trong 1 chỉnh thể.
Đây là 1 ví dụ đơn giản về thơ Tứ tuyệt:
Trên trời mây trắng như bông – Khai
Ở dưới cánh đồng, bông trắng như mây – Thừa
Mấy cô má đỏ hây hây – Triển
Đội bông như thể đội mây về làng – Hợp
Luật thơ tứ tuyệt xét ra cũng chính là quy luật của cuộc sống. Sự vật hiện tượng phải có khai thừa triển hợp thì mới trọn vẹn. Thời điểm hiện tại bạn đang đứng ở đâu, làm gì, đều có thể đặt mình vào một trong bốn câu Tứ tuyệt. Điều quan trọng nhất là dù đứng ở câu thơ nào, chúng ta phải nhận thức là mình nằm trong quy luật vận động ấy, và sau cùng, bạn phải có câu chốt – câu thứ 4 để tổng hợp vấn đề.
Trong mỗi câu chuyện được kể ở trên đây, ít nhiều đều có thể thấy được thực tế câu chuyện đang ở đâu trong cấu trúc này.
Trong câu chuyện 1, văn hóa STCo – sản phẩm của thế hệ FPT đầu tiên đã tạo nền móng cho văn hóa FPT. Văn hóa STCo phù hợp với môi trường cũ, điều kiện cũ khi FPT còn là 1 tập thể nhỏ. Không thể phủ nhận những ảnh hưởng tốt của STCo tới FPT trong suốt thời gian qua, ko chỉ làm thỏa mãn người nội bộ mà còn trở thành một bản sắc riêng được người ngoài ghi nhận.
Nay FPT đã mở rộng, trong môi trường lớn này STCo chưa đáp ứng được, thì thế hệ lãnh đạo mới phải tạo ra văn hóa mới phù hợp với môi trường mới. Họ đang ở câu thơ biến. Tuy nhiên, dù văn hóa FPT mới có thay đổi thế nào, thế hệ FPT mới, ko chỉ ngày nay mà cả trong tương lai (nếu FPT vẫn còn tồn tại) vẫn không nên phủ nhận STCo, mà phải biết lưu ý tới nó và hợp nhất văn hóa FPT mới với văn hóa STCo truyền thống để có được sự hòa hợp, thống nhất và không mất đi bản sắc đặc trưng
Câu chuyện về nước Nhật là 1 ví dụ tốt cho việc hợp nhất văn hóa truyền thống. Dù đang ở thời đại nào, ý thức giữ gìn truyền thống của người Nhật cũng rất tốt, và truyền thống văn hóa đó đang tạo nên những điểm mạnh cho họ.
Vấn đề đáng lo ngại hiện nay của Nhật Bản là sự thay đổi của giới trẻ. Giới trẻ Nhật Bản có sự chuyển biến tâm lý, tạo ra hàng loạt các trào lưu văn hóa hậu hiện đại hoàn toàn khác biệt với văn hóa truyền thống. Một thế hệ trưởng thành trong xã hội nhiều áp lực với sự thay đổi đáng kể này liệu có sẵn sàng kế thừa các truyền thống, phát huy tinh thần của cha ông và tiếp tục đẩy mạnh sự phát triển của Nhật Bản? Câu hỏi này khi được đặt ra với thế hệ lớn tuổi - những người đang giữ gìn và bảo tồn tinh thần và văn hóa Nhật Bản, lại nhận được một câu trả lời đầy lạc quan: Khi nào họ chín chắn, họ sẽ quay lại với truyền thống. Hãy cử để thanh niên tiếp tục đi theo những trào lưu mới, tìm kiếm cái mới. Họ đang ở câu thơ biến. Khi nào tìm kiếm đủ, họ sẽ lại tìm về với những nền tảng của dân tộc mình.
Thì ra, bảo tồn một giá trị, dù là văn hóa hay bất kỳ lĩnh vực nào khác, không có nghĩa là thúc giục thế hệ sau phải theo sát mình, làm theo mình. Bảo tồn văn hóa có nghĩa là bám sát những giá trị văn hóa của người đi trước. Còn thế hệ tiếp theo, họ sẽ có nghĩa vụ phải tự kế tiếp cha ông mình.
Quay trở lại với câu chuyện về Việt Nam. Không thể phủ nhận những thiếu sót có phần di truyền của chúng ta trong việc bảo vệ và khôi phục truyền thống. Nhiều sự kế thừa khẳng định bản thân bằng việc phủ định quá khứ, dù thực tế trong mọi vấn đề, nhất là trong văn hóa không thể kết luận đúng hay sai. Tự thân sự tồn tại của văn hóa theo thời gian đã thể hiện giá trị của nó.
Chúng ta làm nên câu thơ biến, nhưng lại thiếu đi câu thơ cuối cùng – câu thơ hợp nhất, tổng hợp để không chỉ phát triển mà còn bồi đắp thêm cho bản sắc văn hóa Việt Nam. Và chúng ta phải trả giá bằng sự mất mát của nhiều văn vật có giá trị, ảnh hưởng lớn tới việc xây dựng hình ảnh của Việt Nam trong mắt thế giới.
Chúng ta có thể học được từ nhiều nước, học trong nhiều lĩnh vực, nhưng trước hết phải học cách giữ gìn truyền thống, vì gốc rễ văn hóa chính là nền tảng quan trọng nhất cho mọi phát triển.

Thứ Tư, tháng 4 21, 2010

Một số bài viết của DTL

Hôm tuần rồi nhân dịp anh Thắng phó Giám đốc công ty kiểm toán DTL có qua công ty thuyết trình một số vấn đề về quản trị chiến lược trong doanh nghiệp sau khi được DTL tư vấn thành công chính tại công ty DTL và một số công ty khác. Bài thuyết trình này đã cũ (năm 2006) tuy nhiên cách thức tư duy chiến lược kinh doanh so với công ty còn rất mới.
Anh Thắng đã sao chép lại tài liệu cho công ty . Nhân đây phổ biến lại cho các bạn có nhu cầu tham khảo.
Tải tài liệu tại đây

Thứ Ba, tháng 1 05, 2010

Quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) là do năng lực quản trị tài chính hạn chế, đặc biệt trong việc hoạch định nguồn tài trợ dài hạn và quản trị vốn lưu động, thể hiện qua tình trạng thiếu vốn, mất tính thanh khoản. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả muốn đề cập tới một số điều mà các nhà quản lý SME cần lưu tâm trong quản trị vốn lưu động.
Vốn lưu động là một chỉ số liên quan đến lượng tiền một doanh nghiệp cần để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh thường xuyên (được tính bằng cách lấy tổng tài sản ngắn hạn trừ đi tổng nợ ngắn hạn). Các nhà phân tích thường lấy chỉ số này làm căn cứ để đo lường hiệu quả hoạt động cũng như tiềm lực tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp.
1. Quản lý nợ phải thu
Nhiều SME không đầu tư đầy đủ nguồn lực cũng như chính sách trong việc theo dõi và thực hiện việc thu nợ, mặc dù khoản này chiếm phần không nhỏ trong tổng vốn lưu động. Thời gian thu hồi nợ càng ngắn thì doanh nghiệp càng có nhiều tiền để quay vòng vốn. Để rút ngắn thời gian trung bình từ khi bán hàng đến khi thu được nợ từ khách hàng, nhà quản lý SME nên đưa ra một giải pháp toàn diện từ chính sách, hệ thống, con người, công cụ hỗ trợ đến kỹ năng, quy trình thu nợ.
Chính sách
Quy định về điều kiện khách hàng đủ tiêu chuẩn được nợ, hạn mức nợ sau khi đã kiểm tra các thang bậc đánh giá cho từng tiêu chí cụ thể về khả năng thanh toán, doanh thu dự kiến, lịch sử thanh toán, cơ sở vật chất... của từng khách hàng.
Quy định về người phê chuẩn cho các hạn mức nợ khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp, từ Tổng giám đốc, giám đốc bán hàng, trưởng phòng, đến nhân viên bán hàng. Thưởng hợp lý cho những nhân viên thu nợ đạt được chỉ tiêu đề ra để động viên, khuyến khích nhân viên làm việc. Các chính sách này là nền tảng, là tài liệu hướng dẫn cho cả hệ thống và là một kênh thông tin hiệu quả liên kết các phòng, ban trong doanh nghiệp trong quá trình phối kết hợp để quản lý công nợ.
Con người
Doanh nghiệp nên có một bộ phận chuyên trách về quản lý thu nợ và theo dõi công nợ, chia theo ngành nghề kinh doanh của khách hàng, vị trí địa lý hoặc giá trị công nợ. Những nhân viên này được đào tạo về kỹ năng giao tiếp qua điện thoại, khả năng thuyết phục khách hàng thanh toán hoặc cam kết thanh toán, cách xử lý các tình huống khó, sử dụng thành thạo các phần mềm hỗ trợ...
Công cụ
Doanh nghiệp nên đầu tư phần mềm kế toán có phần hành (module) hỗ trợ quản lý công nợ. Những phần mềm ứng dụng này có thể ra được các báo cáo tổng hợp cũng báo cáo công nợ chi đến khách hàng theo các tiêu chí quản trị, giúp tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả công việc của nhân viên thu nợ.
Quy trình
- Trước khi ký hợp đồng cho khách nợ, nhân viên bán hàng nên trực tiếp đến thăm trụ sở công ty khách hàng để trao đổi, thu thập thông tin, tiến hành đánh giá xem khách hàng có điều kiện được nợ không. Sau đó đề xuất hạn mức tín dụng cho khách hàng.
- Khi ký hợp đồng phải qua sự kiểm tra của bộ phận quản lý công nợ để chắc chắn rằng khách hàng không có lịch sử về nợ xấu, nợ khó đòi đã bị đóng hợp đồng. Mẫu hợp đồng nên có đầy đủ các điều khoản về hạn mức nợ, thời hạn thanh toán...
- Sau khi ký hợp đồng, doanh nghiệp nên gửi invoice (bản liệt kê), hóa đơn cho khách đúng kỳ hạn bằng chuyển phát nhanh, thư đảm bảo để chắc chắn rằng khách hàng nhận được giấy tờ và trong thời gian ngắn nhất; liên lạc với khách hàng để giải quyết vướng mắc, đẩy nhanh tiến trình.
- Gửi thư nhắc nợ lần 1, 2, 3 với các mốc thời gian cụ thể cho khách hàng có tuổi nợ cao hơn thời gian cho phép; hẹn gặp và đến thăm khách hàng nếu thấy trao đổi qua điện thoại không hiệu quả... Nếu khó thu hồi nợ, có thể nhờ công ty chuyên thu nợ hoặc bán nợ.
Lưu ý: Mỗi doanh nghiệp có những đặc thù riêng về lĩnh vực kinh doanh, cơ cấu tài sản, vốn lưu động và khoản mục nợ phải thu nhiều hay ít. Nhà quản lý của từng doanh nghiệp nên lựa chọn những phương thức phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình dựa trên phương châm "lợi ích và chi phí", nhiều khi phải đánh đổi giữa tính thanh khoản và lợi nhuận.
Nếu doanh nghiệp gắt gao trong việc thu nợ, tính thanh khoản được cải thiện nhưng có rủi ro là khách hàng sẽ chuyển sang ký hợp đồng với doanh nghiệp khác có chính sách tín dụng thương mại mềm dẻo hơn.
2. Quản trị tiền mặt
Tiền mặt kết nối tất cả các hoạt động liên quan đến tài chính của doanh nghiệp. Vì thế, nhà quản lý cần phải tập trung vào quản trị tiền mặt để giảm thiểu rủi ro về khả năng thanh toán, tăng hiệu quả sử dụng tiền, đồng thời ngăn ngừa các hành vi gian lận về tài chính trong nội bộ doanh nghiệp hoặc của bên thứ ba.
Quản trị tiền mặt là quá trình bao gồm quản lý lưu lượng tiền mặt tại quỹ và tài khoản thanh toán ở ngân hàng, kiểm soát chi tiêu, dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp, bù đắp thâm hụt ngân sách, giải quyết tình trạng thừa, thiếu tiền mặt trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
Xác định và quản lý lưu lượng tiền mặt
Dự trữ tiền mặt (tiền tại quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán tại ngân hàng) là điều tất yếu mà doanh nghiệp phải làm để đảm bảo việc thực hiện các giao dịch kinh doanh hàng ngày cũng như đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh doanh trong từng giai đoạn. Doanh nghiệp giữ quá nhiều tiền mặt so với nhu cầu sẽ dẫn đến việc ứ đọng vốn, tăng rủi ro về tỷ giá (nếu dự trữ ngoại tệ), tăng chi phí sử dụng vốn (vì tiền mặt tại quỹ không sinh lãi, tiền mặt tại tài khoản thanh toán ngân hàng thường có lãi rất thấp so với chi phí lãi vay của doanh nghiệp). Hơn nữa, sức mua của đồng tiền có thể giảm sút nhanh do lạm phát.
Nếu doanh nghiệp dự trữ quá ít tiền mặt, không đủ tiền để thanh toán sẽ bị giảm uy tín với nhà cung cấp, ngân hàng và các bên liên quan. Doanh nghiệp sẽ mất cơ hội hưởng các khoản ưu đãi giành cho giao dịch thanh toán ngay bằng tiền mặt, mất khả năng phản ứng linh hoạt với các cơ hội đầu tư phát sinh ngoài dự kiến.
Lượng tiền mặt dự trữ tối ưu của doanh nghiệp phải thỏa mãn được 3 nhu cầu chính:
- Chi cho các khoản phải trả phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp như: Trả cho nhà cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, trả người lao động, trả thuế
- Dự phòng cho các khoản chi ngoài kế hoạch
- Dự phòng cho các cơ hội phát sinh ngoài dự kiến khi thị trường có sự thay đổi đột ngột.
Doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp Baumol hoặc mô hình Miller Orr để xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý. Sau khi xác định được lưu lượng tiền mặt dự trữ thường xuyên, doanh nghiệp nên áp dụng những chính sách, quy trình sau để giảm thiểu rủi ro cũng như những thất thoát trong hoạt động.
- Số lượng tiền mặt tại quỹ giới hạn ở mức thấp chỉ để đáp ứng những nhu cầu thanh toán không thể chi trả qua ngân hàng. Ưu tiên lựa chọn nhà cung cấp có tài khoản ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng có tính minh bạch cao, giảm thiểu rủi ro gian lận, đáp ứng yêu cầu pháp luật liên quan. Theo Luật thuế Giá trị gia tăng (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 01/01/2009, tất cả các giao dịch từ 20 triệu đồng trở lên nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
- Xây dựng quy trình thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, bao gồm: danh sách các mẫu bảng biểu, chứng từ (hợp đồng kinh tế, hóa đơn, phiếu nhập kho, biên bản giao nhận...). Xác định quyền và hạn mức phê duyệt của các cấp quản lý trên cơ sở quy mô của từng doanh nghiệp. Đưa ra quy tắc rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của các bộ phận liên quan đến quá trình thanh toán để việc thanh toán diễn ra thuận lợi và chính xác.
- Tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm, tách bạch vai trò của kế toán và thủ quỹ. Có kế hoạch kiểm kê quỹ thường xuyên và đột xuất, đối chiếu tiền mặt tồn quỹ thực tế, sổ quỹ với số liệu kế toán . Đối với tiền gửi ngân hàng, định kỳ đối chiếu số dư giữa sổ sách kế toán của doanh nghiệp và số dư của ngân hàng để phát hiện kịp thời và xử lý các khoản chênh lệch nếu có.
Xây dựng và phát triển các mô hình dự báo tiền mặt
Tính toán và xây dựng các bảng hoạch định ngân sách giúp doanh nghiệp ước lượng được khoảng định mức ngân quỹ là công cụ hữu hiệu trong việc dự báo thời điểm thâm hụt ngân sách để doanh nghiệp chuẩn bị nguồn bù đắp cho các khoản thiếu hụt này.
Nhà quản lý phải dự đoán các nguồn nhập, xuất ngân quỹ theo đặc thù về chu kỳ tính doanh, theo mùa vụ, theo kế hoạch phát triển của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Ngoài ra, phương thức dự đoán định kỳ chi tiết theo tuần, tháng, quý và tổng quát cho hàng năm cũng được sử dụng thường xuyên.
Nguồn nhập ngân quỹ thường bao gồm các khoản thu được từ hoạt động sản - xuất, kinh doanh, tiền từ các nguồn đi vay, tăng vốn, bán tài sản cố định không dùng đến...
Nguồn xuất ngân quỹ bao gồm các khoản chi cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, trả nợ vay, trả tiền vay, trả cổ tức, mua sắm tài sản cố định, đóng thuế và các khoản phải trả khác.
Mặc dù doanh nghiệp có thể đã áp dụng các phương pháp quản trị tiền mặt một cách hiệu quả, nhưng do đặc thù về mùa vụ hoặc do những lý do khách quan ngoài tầm kiểm soát, doanh nghiệp bị thiếu hoặc thừa tiền mặt, nhà quản lý có thể áp dụng những biện pháp sau để cải thiện tình hình:
Thứ nhất, biện pháp cần làm khi thiếu tiền mặt:
- Đẩy nhanh tiến trình thu nợ.
- Giảm số lượng hàng tồn kho.
- Giảm tốc độ thanh toán cho các nhà cung cấp bằng cách sử dụng hối phiếu khi thanh toán hoặc thương lượng lại thời hạn thanh toán với nhà cung cấp.
- Bán các tài sản thừa, không sử dụng.
- Hoãn thời gian mua sắm tài sản cố định và hoạch định lại các khoản đầu tư.
- Giãn thời gian chi trả cổ tức.
- Sử dụng dịch vụ thấu chi của ngân hàng hoặc vay ngắn hạn.
- Sử dụng biện pháp "bán và thuê lại" tài sản cố định.
Thứ hai, biện pháp cần làm khi thừa tiền mặt trong ngắn hạn:
- Thanh toán các khoản thấu chi; sử dụng các khoản đầu tư qua đêm của ngân hàng.
- Sử dụng hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn với điều khoản rút gốc linh hoạt.
- Đầu tư vào những sản phẩm tài chính có tính thanh khoản cao (trái phiếu chính phủ).
- Đầu tư vào cổ phiếu quỹ ngắn hạn.
Thứ ba, biện pháp cần làm khi thừa tiền mặt trong dài hạn:
- Đầu tư vào các dự án mới.
- Tăng tỷ lệ cổ tức.
- Mua lại cổ phiếu.
- Thanh toán các khoản vay dài hạn.
- Mua lại công ty khác.